|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 28/2025/HS-ST; Ngày: 27/3/2025. |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC,
TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Cốc.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Minh và ông Lê Quang Chính.
- Thư ký phiên tòa: Bà Quảng Thị Thái Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hoa Lê - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 3 năm 2025 tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2025/TLST-HS, ngày 18 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2025/QĐXXST-HS, ngày 12 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Lưu Ngọc A, sinh năm 2005, tại Ninh Thuận.
Tên gọi khác: Không.
Nơi cư trú: Thôn C, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Không;
Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Chăm; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Bà la môn;
Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lưu Ngọc Q, sinh năm 1974 và bà Lâm Thị G, sinh năm 1974; Vợ con: Chưa có.
Tiền án: Không;
Tiền sự:
- + Ngày 05/5/2023, bị Công an xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 750.000đ về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Quyết định số: 01002/QĐ-XPHC, đến nay chưa nộp phạt;
- + Ngày 07/6/2023, bị Công an xã P, huyện N xử phạt số tiền 1.250.000đ về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo Quyết định số: 102/QĐ-XPVPHC, đến nay chưa nộp phạt.
- Nhân thân: Ngày 27/8/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước xử phạt 7 năm 6 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án hình sự sơ thẩm số: 39/2024/HS-ST.
Bị cáo hiện đang chấp hành án tại Trại giam T3 trong một vụ án khác.
Bị cáo vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt.
* Bị hại:
- Ông Lưu T2, sinh năm 1958.
- Bà Lưu Thị Diễm T, sinh năm 1984.
- Em Tài Ngọc Diễm H, sinh ngày 12/10/2010.
Người đại diện hợp pháp cho em H: Ông Tài Ngọc A1 và bà Lưu Thị Diễm T (Là cha đẻ và mẹ đẻ của em H).
Cùng cư trú: Thôn N, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Trương Thị N, sinh năm 1984.
- Ông Trương Đình N1, sinh năm 1974.
Nơi cư trú: Thôn C, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
Nơi cư trú: Khu phố A, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
(Bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng hơn 15 giờ 00 phút ngày 29/01/2024, Tài Ngọc L (sinh năm 2004, cư trú tại thôn C, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận) và Lưu Ngọc A rủ nhau đi trộm cắp, sau đó L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu EXCITER, biển số: 85D1-723.82 chở Ngọc A đến gần tiệm tạp hóa của bà Lưu Thị Diễm T, sinh năm 1984 ở thôn N, xã P, huyện N, thấy không có người trông coi nên L nói “Nhà không có ai kìa” thì Ngọc A hiểu rằng L muốn Ngọc A vào trong tiệm tạp hoá để trộm cắp tài sản. L dừng xe ở gần ngã ba đầu ngõ, lúc này Ngọc A nói với L “Bạn ở đây coi người” rồi Ngọc A xuống xe leo tường đi vào trong nhà phía sau tiệm tạp hoá. Khi đi đến khu vực phòng khách thì thấy cửa phòng khách bị khoá nhưng cửa hông bên trái ngôi nhà chỉ khép hờ nên Ngọc A đã vào trong nhà. Tại đây, Ngọc A thấy trên tủ phòng khách có 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y33S 8-128GB, màu đen của ông Lưu T2, sinh năm 1958, cư trú tại thôn N, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (là cha ruột của bà T) nên Ngọc A đã lấy và cất giấu vào túi quần; Tiếp theo Ngọc A thấy 01 áo khoác màu đen đã qua sử dụng của em T1 Ngọc Diễm H, sinh năm 2010, cư trú tại thôn N, xã P, huyện N (là con gái của bà T) đang treo trong phòng thì Ngọc A lấy áo này mặc vào người. Sau đó, Ngọc A tiếp tục đi đến tiệm tạm hóa phía trước nhà của bà T, đột nhập theo lối cửa bên hông để vào trong và trộm cắp 01 cục sạc dự phòng màu trắng không rõ nhãn hiệu bỏ vào túi quần; 02 lốc nước ngọt nhãn hiệu Cocacola, mỗi lốc gồm 6 lon và 03 thùng bia nhãn hiệu S, mỗi thùng gồm 24 lon rồi kéo cửa chính tiệm T4 ra ngoài nơi L đang đợi để L điều khiển xe chở Ngọc A cùng số tài sản trộm cắp được rời đi.
Khi đến tiệm T5 ở thôn C, xã P thì Ngọc A và L vào bán 03 thùng bia S cho bà Trương Thị N, sinh năm 1984 với số tiền 720.000 đ. Sau đó, cả hai đem số tiền trên cùng số tài sản còn lại đến quán nhậu thuộc thôn P, huyện N, tại đây Ngọc A và L đã uống 02 lon nước ngọt vừa trộm cắp được và nhậu hết tổng số tiền là 300.000đ. Sau khi nhậu xong, Ngọc A đưa số lon nước ngọt Cocacola còn lại và cục sạc dự phòng cho L xài rồi L điều khiển xe máy trên chở Ngọc A đến tiệm Đ ở khu phố A, thị trấn P, huyện N bán chiếc điện thoại cho ông Trương Đình N1, sinh năm 1974 với số tiền 800.000đ. Ngọc A và L đã tiêu xài hết số tiền có được từ việc bán bia và điện thoại.
Tại kết luận số: 27/KLĐGTS-HĐĐG, ngày 17/4/2024 và Kết luận số: 60/KLĐGTS-HĐĐG, ngày 04/9/2024 của Hội đồng định giá huyện N, kết luận số tài sản bị trộm cắp nêu trên, cụ thể gồm 02 lốc nước ngọt Cocacla có giá 94.000đ; 03 thùng bia S loại 24 lon, còn nguyên thùng có giá 765.000đ; 01 cái áo khoác màu đen, phía trước có in chữ “ESOH” đã qua sử dụng có giá 135.000đ; 01 cục sạc dự phòng, màu trắng, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng có giá 34.000đ, 01 điện thoại di động hiệu VIVO Y33S 8-128GB, màu đen, tài sản đã qua sử dụng 4.014.000đ; Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 5.042.000đ (Năm triệu không trăm bốn mươi hai nghìn đồng).
- Vật chứng của vụ án:
- + 03 thùng bia nhãn hiệu S, mỗi thùng có 24 lon do bà Trương Thị N giao nộp. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản của bà Lưu Thị Diễm T bị chiếm đoạt nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà T.
- + 01 áo khoác loại vải dù màu đỏ xanh có in chữ “Now Food” do Tài Ngọc L giao nộp.
- + 02 đoạn video trích xuất camera tại nhà bà Lưu Thị Diễm T vào ngày 29/01/2024, ghi lại diễn biến vụ trộm.
- + Đối với cục sạc dự phòng, quá trình điề tra không thu giữ được.
- + Đối với chiếc điện thoại VIVO, sau khi trộm cắp Ngọc A và L đã bán cho ông Trương Đình N1, ông N1 đã bán cho người không quen biết nên không thu hồi được.
- Trách nhiệm dân sự:
Các bị hại là bà Lưu Thị Diễm T yêu cầu bị cáo bồi thường 128.000đ là trị giá 02 lốc nước ngọt Cocacla và 01 cục sạc dự phòng; Ông Lưu T2 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 4.014.000đ là trị giá 01 điện thoại di động hiệu VIVO Y33S 8-128GB; Em Tài Ngọc D Hà yêu cầu bị cáo bồi thường trị giá chiếc áo khoác bị trộm cắp là 135.000đ.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị N yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 720.000đ là tiền mua 03 thùng bia.
Cáo trạng số: 27/CT-VKS-HS, ngày 18/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận truy tố bị cáo Lưu Ngọc A về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt; Quá trình điều tra truy tố bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, tại đơn xin vắng mặt bị cáo không trình bày hay khai báo gì thêm; Lời khai nhận tội của bị cáo đúng như diễn biến vụ án được mô tả tại cáo trạng của Viện kiểm sát.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- + Tuyên bố: Bị cáo Lưu Ngọc A phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
- + Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 91 và Điều 10 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo mức án từ 09 (Chín) tháng đến 12 (Mười hai) tháng tù và đề nghị tổng hợp hình phạt chung của hai bản án cho bị cáo.
- + Về trách nhiệm dân sự:
- + Về xử lý vật chứng:
Buộc bị cáo phải bồi thường cho các bị hại là bà Lưu Thị Diễm T 128.000đ;
Bồi thường cho ông Lưu T2 4.014.000đ; Buộc bị cáo bồi thường cho em Tài Ngọc D Hà trị giá chiếc áo khoác bị trộm cắp là 135.000đ.
Buộc bị cáo phải bồi thường cho bà Trương Thị N 720.000đ.
- 03 thùng bia nhãn hiệu S, mỗi thùng có 24 lon do bà Trương Thị N giao nộp; Quá trình điều tra xác định đây là tài sản của bà Lưu Thị Diễm T bị chiếm đoạt nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà T.
- 01 áo khoác loại vải dù màu đỏ xanh có in chữ “Now Food” là tài sản của Tài Ngọc L do L giao nộp không liên quan đến vụ án nên giao cho Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh để giải quyết trong vụ án của Tài Ngọc L.
- 02 đoạn video trích xuất camera tại nhà bà Lưu Thị Diễm T vào ngày 29/01/2024, ghi lại diễn biến vụ trộm đưa vào hồ sơ vụ án để phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử.
Bị cáo vắng mặt nên không không tranh luận được.
Bị cáo vắng mặt nên không có lời nói sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[1.2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng:
Đối với bị cáo: Lưu Ngọc A hiện đang chấp hành án tại trại giam T3 trong một vụ án khác, bị cáo làm đơn xin xét xử mắng mặt do bị bệnh hiểm nghèo và sức khỏe không bảo đảm để tham gia phiên tòa; Xét thấy bị cáo bị bệnh phải liên tục điều trị tại bệnh viện và hiện sức khỏe yếu, đơn xin xét xử vắng mặt của bị cáo được cơ sở giam giữ xác nhận, quá trình điều tra truy tố bị cáo thành khẩn thừa nhận hành vi phạm tội và việc vắng mặt của bị cáo tại phiên tòa không ảnh hưởng đến việc xét xử vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 290 Bộ luật tố tụng hình sự để chấp nhận và xét xử vắng mặt bị cáo.
Đối với bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt và đều có yêu cầu xét xử vắng mặt; Xét thấy những người vắng mặt trên đã có lời khai tại hồ sơ và không có yêu cầu gì thêm đồng thời có yêu cầu xét xử vắng mặt; Việc họ vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự để xét xử vắng mặt bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử kiểm tra kỹ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; Các tài liệu chứng cứ thu thập được hoàn toàn phù hợp với Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận của bị cáo tại giai đoàn điều tra và truy tố phù hợp với lời khai của bị hại và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 29/01/2024 tại nhà bà Lưu Thị Diễm T, sinh năm 1984, ở thôn N, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Lưu Ngọc A và Tài Ngọc L đã lợi dụng sơ hở của chủ tài sản để lén lút trộm cắp 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y33S 8-128GB, màu đen của ông Lưu T2, 01 áo khoác màu đen đã qua sử dụng của em T1 Ngọc Diễm H, 01 cục sạc dự phòng màu trắng không rõ nhãn hiệu, 02 lốc nước ngọt nhãn hiệu Cocacola, mỗi lốc gồm 6 lon và 03 thùng bia nhãn hiệu S, mỗi thùng gồm 24 lon, tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 5.042.000đ (Năm triệu không trăm bốn mươi hai nghìn đồng). Vì vậy Cáo trạng số: 27/CT-VKS-HS, ngày 18/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận truy tố bị cáo Lưu Ngọc A về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
[2.2] Xét mặt chủ quan, khách quan, chủ thể và khách thể của tội phạm: Bị cáo là người trên 18 tuổi, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản bị pháp luật cấm và sẽ bị xử lý nhưng vì tham lam lười lao động nên bị cáo đã bất chấp và cố ý thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác trái pháp luật, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
[2.3] Bị cáo có 02 tiền sự, cụ thể: Ngày 05/5/2023, Ngọc A bị Công an xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 750.000đ về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Quyết định số: 01002/QĐ-XPHC, đến nay chưa nộp phạt; Ngày 07/6/2023, Ngọc A bị Công an xã P, huyện N xử phạt số tiền 1.250.000đ về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo Quyết định số: 102/QĐ-XPVPHC, đến nay chưa nộp phạt.
Ngoài ra về nhân thân, ngày 27/8/2024 Ngọc A bị Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước xử phạt 7 năm 6 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án hình sự sơ thẩm số: 39/2024/HS-ST.
Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo hộ, làm mất an ninh trật tự tại địa phương; Bị cáo còn nhiều lần vi phạm pháp luật vì vậy cần xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[2.4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
[2.5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi của mình; Những tình tiết giảm nhẹ này được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[3] Về xử lý vật chứng:
- - 03 thùng bia nhãn hiệu S, mỗi thùng có 24 lon do bà Trương Thị N giao nộp. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản của bà Lưu Thị Diễm T bị chiếm đoạt nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà T là đúng quy định pháp luật.
- - 01 áo khoác loại vải dù màu đỏ xanh có in chữ “Now Food” do Tài Ngọc L giao nộp; Đây là tài sản của Tài Ngọc L không liên quan đến vụ án nên giao cho Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh để giải quyết trong vụ án của Tài Ngọc L.
- - 02 đoạn video trích xuất camera tại nhà bà Lưu Thị Diễm T vào ngày 29/01/2024, ghi lại diễn biến vụ trộm được đính kèm hồ sơ vụ án.
- - Đối với cục S, quá trình điều tra không thu giữ được.
- - Đối với chiếc điện thoại VIVO, sau khi trộm cắp Ngọc A và L đã bán cho ông Trương Đình N1, ông N1 đã bán cho người không quen biết nên không thu hồi được.
[4] Về trách nhiệm dân sự:
Buộc bị cáo bồi thường cho bà Lưu Thị Diễm T trị giá 02 lốc nước ngọt Cocacla và 01 cục sạc dự phòng với tổng số tiền 128.000đ;
Buộc bị cáo bồi thường cho ông Lưu T2 trị giá chiếc điện thoại hiệu Vivo với số tiền 4.014.000đ;
Buộc bị cáo bồi thường cho bà Trương Thị N số tiền 720.000đ là tiền mua 03 thùng bia hiệu Sài Gòn do bị cáo trộm cắp mà có.
Buộc bị cáo Lưu Ngọc A bồi thường cho em Tài Ngọc D H số tiền 135.000đ là trị giá chiếc áo khoác bị chiếm đoạt.
Bị cáo Lưu Ngọc A có quyền khởi kiện dân sự yêu cầu Tài Ngọc L hoàn lại số ½ tiền bồi thường cho các ông bà Lưu T2, Lưu Thị Diễm T2, Trương Thị N và em T1 Ngọc Diễm H khi có yêu cầu.
[5] Các vấn đề khác:
- - Đối với Tài Ngọc L đã đồng phạm với Lưu Ngọc A nhưng hiện nay L không có mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra đã tách hành vi của L ra để tiến hành điều tra xử lý sau là đúng quy định pháp luật.
- - Đối với bà Trương Thị N là người mua 03 thùng bia S do Lưu Ngọc A bán nhưng bà N không biết đây là tài sản do phạm tội mà có nên không có căn cứ để xử lý đối với bà N.
- - Đối với ông Trương Đình N1 đã mua chiếc điện thoại Vivo do Lưu Ngọc A bán nhưng ông N1 không biết đây là tài sản do phạm tội mà có nên không có căn cứ để xử lý đối với ông N1.
- - Đối với chiếc xe EXCITER, biển số: 85D1-723.82, quá trình điều tra xác định là tài sản của ông Tài Q1, sinh năm 1972, trú tại thôn C, xã P, huyện N là cha ruột của Tài Ngọc L; Ngày 29/01/2024 ông Q1 cho L mượn xe đi chơi, việc L dùng xe đi trộm cắp thì ông Q1 không biết nên không có căn cứ để xử lý.
- - Bà Lưu Thị Diễm T khai ngoài số tài sản nêu trên bà còn bị mất thêm 01 (một) cục xạc điện thoại di động, tuy nhiên Lưu Ngọc A không thừa nhận trộm cục xạc này; Ngoài lời khai của bà T thì không có tài liệu, chứng cứ nào khác để kết luận có xảy ra việc mất tài sản nêu trên hay không nên không có căn cứ để xử lý.
[6] Xét quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước về quan điểm truy tố, căn cứ áp dụng và mức đề nghị là có căn cứ nên được chấp nhận.
[7] Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Các Điều 290, 292 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 46 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
- Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lưu Ngọc A phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Tuyên bố: Bị cáo Lưu Ngọc A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Lưu Ngọc A 09 (Chín) tháng tù.
Áp dụng Điều 56 của Bộ luật hình sự; Tổng hợp hình phạt 07 năm 06 tháng tù tại bản án hình sự sơ thẩm số 39, ngày 27/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận; Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 08 (Tám) năm 03 (Ba) tháng tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bắt chấp hành án nhưng được khấu trừ vào thời gian tạm giữ tạm giam từ ngày 26/8/2023 đến ngày 31/8/2023 và từ ngày 12/8/2024 đến ngày 23/8/2024.
Buộc bị cáo Lưu Ngọc A bồi thường cho bà Lưu Thị Diễm T số tiền 128.000đ (Một trăm hai mươi tám nghìn đồng).
Buộc bị cáo Lưu Ngọc A bồi thường cho ông Lưu T2 số tiền 4.014.000đ (Bốn triệu không trăm mười bốn nghìn đồng).
Buộc bị cáo Lưu Ngọc A bồi thường cho bà Trương Thị N số tiền 720.000đ (Bảy trăm hai mươi nghìn đồng).
Buộc bị cáo Lưu Ngọc A bồi thường cho em Tài Ngọc D H số tiền 135.000đ (Một trăm ba mươi lăm nghìn đồng).
Bị cáo Lưu Ngọc A có quyền khởi kiện dân sự yêu cầu Tài Ngọc L hoàn lại ½ số tiền bồi thường cho các ông bà Lưu T2, Lưu Thị Diễm T2, Trương Thị N và em T1 Ngọc Diễm H khi có yêu cầu.
Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đăng Cốc |
Bản án số 28/2025/HS-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 28/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lưu Ngọc Anh 173
