Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LẠC SƠN

TỈNH HOÀ BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2025/HS-ST

Ngày: 26 - 6 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN - TỈNH HOÀ BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Lọt; Ông Bùi Văn Tấn.

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Khánh Linh - Thư ký toà án nhân dân huyện Lạc Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn tham gia phiên toà: ông Trần Tú Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Toà án nhân dân huyện Lạc Sơn đã mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2025/HSST ngày 23 tháng 5 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:

Bùi Văn A, sinh ngày 10 tháng 9 năm 1993 tại xã B, huyện L, tỉnh Hòa Bình; Nơi cư trú: xóm K, xã B, huyện L, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ học vấn: 02/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch Việt Nam; Con ông: Bùi Văn H, sinh năm 1969 và bà Bùi Thị M, sinh năm 1977; gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: ngày 03/6/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình xử phạt 06 (sáu) năm tù về tội Cướp tài sản (Bản án số 15/2016/HSST). Đã chấp hành xong án phạt tù kể từ ngày 24/3/2021. Hiện đã được xóa án tích.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/02/2025, chuyển tạm giam từ ngày 12/02/2025. Có mặt.

- Người bị hại: Bùi Văn T, sinh năm 1984. Nơi cư trú: xóm K, xã B, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+ Chị Bùi Thị L, sinh năm 1983; Trú tại: xóm K, xã B, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.

+ Anh Bùi Văn T1, sinh năm 1982; Trú tại: xóm K, xã B, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.

+ Ông Bùi Văn H, sinh năm 1969; Trú tại: xóm K, xã B, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt.

+ Bà Bùi Thị M1, sinh năm 1949; Trú tại: xóm K, xã B, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

+ Chị Bùi Thị N, sinh năm 1978. Có mặt.

+ Anh Bùi Văn T2, sinh năm 1991. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diện biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 02/02/2025, Bùi Văn A có rủ Bùi Văn T đến nhà tại xóm K, xã B ăn cơm, uống rượu. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày có thêm Bùi Văn Q đến ăn cơm, uống rượu cùng, tuy nhiên đến khoảng 22 giờ thì Q xin phép về trước. Lúc này Bùi Văn A và Bùi Văn T tiếp tục ngồi ăn cơm, uống rượu với nhau, T có nói một câu trêu đùa là: “em gái mày nhìn ngon thế”, nghe vậy Bùi Văn A có nói: “em gái của anh đấy, không được trêu”, do lúc này hai bên đã uống rượu nên xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau. Sau đó cả hai lại rủ nhau đi uống trà sữa và đến nhà T để uống rượu tiếp, lúc này T lấy xe mô tô của mình chở Bùi Văn A đi ra quán uống trà sữa, tuy nhiên trên đường đi hai bên tiếp tục cãi nhau. Khoảng 22 giờ 30 phút khi đi đến đoạn đường cầu ngầm thuộc xóm K, xã B, huyện L, tỉnh Hòa Bình thì xe mô tô do T điều khiển bị đổ làm cả hai ngã ra đường và hai bên lại tiếp tục cãi nhau, do bực tức về việc T có lời nói trêu em gái mình trước đó nên Bùi Văn A đã dùng tay phải tát một cái vào mặt T thì bị T dùng tay tát lại, đấm vào bụng. Khi bị đánh, Bùi Văn A nảy sinh ý định chạy đi tìm hung khí để đánh T, lúc này Bùi Văn A nhìn thấy nhà bà Bùi Thị M1 ở cách đấy 25m nên chạy đến, đi xuống bếp lấy 01 con dao được cài trên vách bếp nhà bà M1, sau khi lấy được dao Bùi Văn A quay lại đoạn cầu ngầm xóm K để tìm T.

Cùng lúc Bùi Văn A bỏ đi, do say rượu không lái được xe nên T gọi điện thoại cho vợ là chị Bùi Thị L đến đón về. Sau khi nhận được điện thoại của T thì chị L có gọi con trai là cháu Bùi Hoàng P cùng anh trai T là anh Bùi Văn T1, vợ anh T1 là chị Bùi Thị N và em trai T là anh Bùi Văn T2 ra để đưa T về. Khi mọi người ra đến nơi thì thấy T đang ngồi gần xe mô tô nên anh T1 có nói với T là: “Thôi say rồi thì về đi”, đúng lúc mọi người đang chuẩn bị đưa T về thì Bùi Văn A cầm dao đi từ nhà bà M1 ra nhìn thấy và nghĩ là T gọi người đến để đánh mình nên cầm dao bằng tay phải lao đến chém về phía anh T1 nhưng anh T1 tránh được, thấy vậy T chạy đến thì bị Bùi Văn A cầm dao chém nhiều nhát (khoảng 4-5 nhát) trúng vào vùng trán, vùng lưng, vùng ngực trái, mặt trước cẳng tay trái, ngón tay trái. Lúc này có em trai T là anh Bùi Văn T2 chạy đến can ngăn, đẩy Bùi Văn A ra. Sau đó Bùi Văn A bỏ đi về, còn T được người thân đưa đến Trung tâm y tế huyện L, sau đó được chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh H để điều trị thương tích. Đến ngày 03/02/2025, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên Bùi Văn A đã đến Cơ quan CSĐT, Công an huyện L xin đầu thú, tự giao nộp lại con dao đã dùng làm hung khí chém gây thương tích cho Bùi Văn T vào tối ngày 02/02/2025.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 22/KLTTCT-TTPY ngày 05/02/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh H xác định: Tại thời điểm giám định Bùi Văn T, sinh năm: 1984, nơi đăng ký thường trú: xóm K, xã B, huyện L, tỉnh Hòa Bình bị đứt động mạch tay trái; các vết thương đang liền sẹo; Các vết sây sát, trợt da trên cơ thể. Dẫn đến tổn thương 19% (Mười chín phần trăm) sức khỏe.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

- 01 (một) con dao (dạng dao chặt) dài 40cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 26cm có đầu bằng rộng 07cm, thân lưỡi dao có bám dính tạp chất màu hồng (nghi là máu), cán dao bằng gỗ hình trụ tròn dài 14cm có gắn 02 khuy bằng kim loại màu trắng. Vật chứng được chuyển sang Kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Sơn để bảo quản theo quy định.

Về dân sự: quá trình điều tra, gia đình Bùi Văn A đã tự nguyện hỗ trợ, đền bù cho Bùi Văn T số tiền 2.000.000₫ (Hai triệu đồng). Bùi Văn T đề nghị bị can Bùi Văn A phải đền bù thêm số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) là tiền điều trị thương tích và tổn hại tinh thần.

Theo bản cáo trạng số: 24/CT-VKS-TT ngày 23/5/2025, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn quyết định truy tố bị cáo Bùi Văn A về tội “Cố ý gây thương tích" theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Văn A và người bị hại Bùi Văn T đã thống nhất số tiền bị cáo phải bồi thường là 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu đồng), bao gồm tất cả các khoản chi phí, tiền công người chăm sóc, thu nhập bị mất, tiền phục hồi sức khỏe sau điều trị, tiền tổn thất tinh thần. Bị cáo đã bồi thường 2.000.000₫ (Hai triệu đồng), bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường 38.000.000₫ (Ba mươi tám triệu đồng).

Kết thúc phần xét hỏi vị đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội; nội dung bản luận tội đã phân tích tính chất, mức độ, nguyên nhân, động cơ mục đích phạm tội, nhân thân của bị cáo; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ áp dụng đối với bị cáo và khẳng định cáo trạng truy tố bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng:

điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Văn A từ 30 đến 36 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại Điều 5 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 357; Điều 468; Điều 584, Điều 585; Điều 586; Điều 590 Bộ luật Dân sự công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và người bị hại.

Về vật chứng: đề nghị HĐXX căn cứ điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy con dao bị cáo đã sử dụng làm hung khí gây án.

Về án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng của Viện Kiểm sát đã tóm tắt ở phần trên. Bị cáo thừa nhận cáo trạng truy tố, nội dung bản luận tội của Viện kiểm sát đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Viện Kiểm sát. Tại lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1].Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu ngại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Tuy nhiên quá trình điều tra, những người này đã có lời khai đầy đủ, rõ ràng được lưu trong hồ sơ vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự, xét thấy sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: Lời khai nhận tội của bị cáo Bùi Văn A có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ khác như: Kết luận của Trung tâm giám định pháp y tỉnh H; lời khai của người làm chứng, người bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu khác đã được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án nên đã có đủ cơ sở khẳng định: khoảng 22 giờ 30 phút ngày 02/02/2025, tại đoạn đường cầu ngầm thuộc xóm K, xã B, huyện L, tỉnh Hòa Bình, do có xảy ra mâu thuẫn, Bùi Văn A đã có hành vi dùng 01 con dao chém khoảng 4-5 nhát trúng vào vùng trán, vùng lưng, vùng ngực trái, mặt trước cẳng tay trái, ngón tay trái của anh Bùi Văn T làm anh T bị thương, tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Bùi Văn T là 19% (Mười chín phần trăm). Bùi Văn A là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý nên hành vi của Bùi Văn A phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn truy tố bị cáo Bùi Văn A về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi cố ý gây thương tích của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi cố ý gây thương tích đối người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Chính từ ý thức và việc làm sai trái gây ra những đau đớn về thể xác cho bị hại, gây tốn kém về tiền bạc cho việc điều trị, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo đã từng bị xét xử với mức hình phạt lên đến 6 năm về tội “ Cướp tài sản” nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tự tu dưỡng, cải tạo mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Trong vụ án này khi bị cáo vung dao chém về phía bị hại tuy không nhằm tước đoạt tính mạng, không nhằm cụ thể vào vị trí nào trên cơ thể nhưng đã chém nhiều nhát, điều này cũng thể hiện sự hung hãn, mất kiểm soát bản thân của bị cáo. Do đó, việc đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết và cần phải xử lý bị cáo tương ứng với tính chất, mức độ hành vi mà bị cáo đã gây ra nhằm răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành người tốt, có ích cho xã hội đồng thời đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.

[4] Về nhân thân: trước khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Nhưng bị cáo có nhân thân xấu: ngày 03/6/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình xử phạt 06 (sáu) năm tù về tội Cướp tài sản.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo ra đầu thú; bị cáo có ý thức tác động đến gia đình bồi thường một phần chi phí tiền thuốc, viện phí cho người bị hại; là người dân tộc Mường, sinh sống ở nơi có điều kiện kinh tế khó khăn; trình độ học vấn thấp; sự việc xảy ra có một phần lỗi của bị hại do cùng uống rượu với nhau và xảy ra mâu thuẫn từ trước đó. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6] Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát đề nghị mức hình phạt, tình tiết giảm nhẹ là phù hợp với hành vi của bị cáo gây ra. Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ nên cần được chấp nhận.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Bùi Văn A và người bị hại đã thỏa thuận: Bị cáo bồi thường cho bị hại tổng số tiền là 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu đồng), trừ đi số tiền 2.000.000₫ đã bồi thường trước đó, nay còn phải tiếp tục bồi thường 38.000.000₫ ( Ba mươi tám triệu đồng). Xét thấy, sự thỏa thuận của bị cáo và người bị hại là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội nên HĐXX chấp nhận.

[8] Về vật chứng: 01 (một) con dao (dạng dao chặt) dài 40cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 26cm có đầu bằng rộng 07cm, thân lưỡi dao có bám dính tạp chất màu hồng (nghi là máu), cán dao bằng gỗ hình trụ tròn dài 14cm có gắn 02 khuy bằng kim loại màu trắng. Đây là hung khí gây án nên cần tịch thu tiêu hủy.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015;

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn A phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
  2. Về hình phạt:

    Xử phạt bị cáo Bùi Văn A 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 03/02/2025.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 5 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 357; Điều 468; Điều 584, Điều 585; Điều 586; Điều 590 Bộ luật Dân sự: Công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo Bùi Văn A và người bị hại Bùi Văn T. Cụ thể: bị cáo Bùi Văn A phải bồi thường cho anh Bùi Văn T tổng số tiền 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu đồng). Bị cáo đã bồi thường được 2.000.000₫ (Hai triệu đồng), nay bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường 38.000.000₫ (Ba mươi tám triệu đồng).

    Kể từ ngày người được yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả.

  4. Về vật chứng: Căn cứ điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao (dạng dao chặt) dài 40cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 26cm có đầu bằng rộng 07cm, thân lưỡi dao có bám dính tạp chất màu hồng (nghi là máu), cán dao bằng gỗ hình trụ tròn dài 14cm có gắn 02 khuy bằng kim loại màu trắng.

    Vật chứng nêu trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/6/2025 giữa Công an tỉnh H với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạc Sơn.

  5. Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 21; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Bùi Văn A phải chịu 200.000đ án phí hình sự và 1.900.000₫ phí dân sự sơ thẩm. Tổng cộng bị cáo phải chịu 2.100.000đ án phí.
  6. Bị cáo, người bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

    Trường hợp quyết định, bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình;
  • - VKSND tỉnh Hòa Bình;
  • - VKSND huyện Lạc Sơn;
  • - Chi cục thi hành án huyện Lạc Sơn;
  • - UBND xã Bình Hẻm;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2025/HS-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN - TỈNH HOÀ BÌNH về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 28/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN - TỈNH HOÀ BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn A cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger