|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 28/2025/HS-ST Ngày 26 - 3 -2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đường
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thúy Nga
Bà Vũ Thị Kim Dung
Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Tuấn Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 06/2025/TLST- HS ngày 23 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2025/QĐXXST- HS ngày 28 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Duy Q
, sinh ngày 20/5/1998, tại Hà Nội; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn X, xã K, huyện S, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Duy T và bà Nguyễn Thị H; vợ: Nguyễn Thị N; con: 01 con; tiền sự: không; tiền án: 02; Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 14/2019/HS-PT của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm Bản án hình sự sơ thẩm số 161/2018/HSST ngày 12/11/2018 của Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xử phạt Nguyễn Duy Q 24 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ; án phí hình sự phúc thẩm 200.000đ, án phí dân sự trong vụ án hình sự là 1.163.000đ; bồi thường cho anh La Văn Đ số tiền là 8.075.000đ, bồi thường cho chị Nguyễn Thị H1 số tiền là 15.196.000đ. Q chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/03/2020. Q đã chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm, án phí hình sự phúc phẩm, án phí dân sự trong vụ án hình sự, khoản bồi thường thiệt hại đối với anh La Văn Đ, đối với khoản bồi thường cho chị Nguyễn Thị H1 do không có đơn yêu cầu nên Q chưa thi hành.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 68/2020/HSST ngày 23/6/2020 của Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn xử phạt Nguyễn Duy Q 03 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ, án phí dân sự trong vụ án hình sự là 2.070.000đ, bồi thường cho chị Nguyễn Thị Ngọc S số tiền 30.150.000đ, bồi thường cho chị Nguyễn Thị L số tiền 11.250.000đ. Q chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/01/2023, Q đã chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm, án phí hình sự phúc phẩm, án phí dân sự trong vụ án hình sự, khoản bồi thường thiệt hại đối với chị Nguyễn Thị Ngọc S, Q đã bồi thường số tiền 10.000.000đ còn phải bồi thường số tiền 20.150.000đ, đối với khoản bồi thường cho chị Nguyễn Thị L do không có đơn yêu cầu nên Q chưa thi hành. Tính đến ngày 20/01/2024, Q chưa được xoá án tích. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 68/2020/HSST ngày 23/6/2020 của Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn xác định hành vi của Nguyễn Duy Q là tái phạm, do vậy lần phạm tội này của Q là Tái phạm nguy hiểm.
- Nhân thân: Năm 2012, Q bị Công an huyện G xử phạt hành chính bằng hình thức Cảnh cáo về hành vi Trộm cắp tài sản.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/7/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh V (có mặt).
Bị hại:
- Chị Đỗ Thị N1, sinh năm 1994; địa chỉ: Thôn M, xã D, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt);
- Anh Nguyễn Duy H2, sinh năm 2004; địa chỉ: Tổ B, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt);
- Anh Nguyễn Quốc K, sinh ngày 13/01/2017; địa chỉ: Tổ dân phố L, thị trấn K, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt );
- Anh Hoàng Xuân T1, sinh năm 2006; Địa chỉ: Tổ dân phố G, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt);
- Anh Hà Hồng T2, sinh năm 2004; Đều có địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt);
- Anh Nguyễn Ngọc Đ1, sinh năm 2001; địa chỉ: Tổ A, khu E, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt);
- Anh Lưu Quang V, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt);
- Chị Ngô Thị Thu H3, sinh năm 1994; địa chỉ: C đường L, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 07 năm 2024, Nguyễn Duy Q quen biết với Nguyễn Công M. Sau đó, Q dùng số điện thoại 0356.876.xxx (sim rác, không đăng ký chính chủ) để liên lạc với M qua số điện thoại 0982.816.xxx. Do thiếu tiền tiêu xài cá nhân nên Q và M rủ nhau đi trộm cắp tài sản là xe mô tô của người dân đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Cả hai thống nhất phân công Minh là người chuẩn bị phương tiện xe mô tô, điều khiển xe chở Q đi trộm cắp tài sản; Q có nhiệm vụ chuẩn bị vam phá khóa mang đi để phá khóa xe mô tô, khi phát hiện xe mô tô của người dân để sơ hở, không có người trông giữ thì Q sẽ xuống xe thực hiện hành vi trộm cắp, còn M đứng cảnh giới, tài sản sau khi trộm cắp được, M có trách nhiệm đem đi tiêu thụ. Toàn bộ số tiền có được từ việc bán xe trộm cắp, M và Q sẽ chia nhau, mỗi người một nửa. Từ ngày 15/7/2024 đến ngày 30/7/2024, M và Q đã thực hiện 06 vụ trộm cắp xe mô tô trên địa bàn thành phố V, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Sáng ngày 15/7/2024, M gọi điện thoại cho Q rủ đi trộm cắp tài sản, Q đồng ý và hẹn gặp nhau ở đê thôn X, xã K, huyện S, thành phố Hà Nội. Sau đó, M điều khiển chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave, màu xanh (Q không nhớ BKS) đi đến đón Q rồi chở Q đi đến thành phố V để trộm cắp tài sản. Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi đến quán trà sữa Toco T3, địa chỉ tại số F đường T, phường K, thành phố V, Q và M phát hiện chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, BKS: 88K1-501.22 của chị Đỗ Thị N1 đang dựng trên vỉa hè. Quan sát xung quanh không có người trông giữ, quản lý nên M điều khiển xe dừng gần vị trí chiếc xe trên rồi Q xuống xe đi đến vị trí sườn xe rồi lấy vam phá mang theo khóa đúc mũi vam vào trong ổ khóa điện xe mô tô, dùng lực hai tay vặn mạnh theo chiều từ trái qua phải thì phá được khóa điện. Sau đó, Q ngồi lên xe để nổ máy phóng nhanh về huyện Y, tỉnh Bắc Ninh và giao cho M mang đi bán được 6.000.000đ. M chia cho Q 3.000.000đ và Q đã tiêu xài cá nhân hết.
Lần thứ hai: Sáng ngày 19/7/2024, M gọi điện thoại cho Q rủ đi trộm cắp tài sản, Q đồng ý. Sau đó, M điều khiển chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave, màu xanh đi đến đón Q rồi chở Q đến thành phố V để trộm cắp tài sản. Khoảng 10 giờ 40 phút cùng ngày, khi đi đến phòng tập võ “Happy” ở số C, đường N, phường K, thành phố V, Q và M phát hiện 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, gắn BKS: 19AA - 111.49, trên xe có treo 02 chiếc mũ bảo hiểm của anh Nguyễn Duy H2 đang dựng trên vỉa hè. Quan sát xung quanh không có ai trông giữ, quản lý nên M điều khiển xe dừng gần vị trí chiếc xe trên, M đứng cảnh giới, Q xuống xe, đi đến vị trí chiếc xe máy BKS: 19AA - 111.49; lấy vam phá khóa đúc mũi vam vào trong ổ khóa điện xe mô tô rồi dùng lực hai tay vặn mạnh theo chiều từ trái qua phải thì phá được khóa điện. Sau đó, Q ngồi lên xe đề nổ máy phóng nhanh về huyện Y, tỉnh Bắc Ninh và giao cho M mang đi bán được 6.000.000đ. M chia cho Q 3.000.000đ và Q đã tiêu xài cá nhân hết. Đối với 02 chiếc mũ bảo hiểm thì Q đã ném bỏ trên đường về nhưng không nhớ vị trí.
Lần thứ ba: Vào khoảng 19 giờ ngày 24/07/2024, M gọi điện thoại rủ Q đi trộm cắp tài sản, Q đồng ý. Sau đó, M điều khiển chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave, màu xanh đi đến đón Q rồi chở Q đi đến thành phố V để trộm cắp tài sản. Khoảng 19 giờ 55 phút cùng ngày, khi đi đến quán L4 trên đường N, phường L, thành phố V thì phát hiện chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, BKS: 88AK - 011.46 của cháu Nguyễn Quốc K đang dựng trên vỉa hè. Quan sát xung quanh không có ai trông giữ, quản lý chiếc xe nên M điều khiển xe dừng gần vị trí chiếc xe trên, Q xuống xe, đi đến vị trí chiếc môtô BKS: 88AK - 011.46 dắt lùi xe ra đường. Q lấy vam phá khóa đúc mũi vam vào trong ổ khóa điện xe mô tô rồi dùng lực hai tay vặn mạnh theo chiều từ trái qua phải thì phá được khóa điện. Sau đó, Q ngồi lên xe đề nổ máy phóng nhanh về huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, giao chiếc xe trên cho M mang đi bán được 6.000.000đ. M chia cho Q 3.000.000₫ và Q tiêu xài cá nhân hết.
Lần thứ tư: Sau khi trộm cắp và bán được xe mô tô BKS: 88AK - 011.46, tối ngày 24/7/2024 Q và M tiếp tục đi đến thành phố V để trộm cắp tài sản. Khoảng 21 giờ 00 phút cùng ngày, khi đi đến quán L5 có địa chỉ lô S, đường T, phường L, thành phố V, Q và M phát hiện chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh bạc, BKS: 88B1 - 373.34 của cháu Hoàng Xuân T1 đang dựng trên vỉa hè. Quan sát xung quanh không có ai trông giữ, quản lý chiếc xe nên M điều khiển xe dừng gần vị trí chiếc xe trên. Q xuống xe, đi đến vị trí chiếc xe rồi lấy vam phá khóa đúc mũi vam vào trong ổ khóa điện xe mô tô, dùng lực hai tay vặn mạnh theo chiều từ trái qua phải thì phá được khóa điện. Sau đó, Q ngồi lên xe, đề nổ máy phóng nhanh về huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, giao chiếc xe cho M mang đi bán được 6.000.000đ. M chia cho Q 3.000.000đ và Q đã tiêu xài cá nhân hết.
Lần thứ năm: Sáng ngày 27/7/2024, Q gọi điện thoại rủ M đi trộm cắp tài sản, M đồng ý. Sau đó, M điều khiển chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave, màu xanh đi đến đón Q rồi chở Q đi đến thành phố V để trộm cắp tài sản. Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi đến quán P, số C đường P, phường K, thành phố V; Q và M phát hiện chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ, BKS: 19AG - 034.63 của anh Hà Hồng T2 đang dựng trên vỉa hè. Quan sát xung quanh không có ai trông giữ, quản lý chiếc xe nên M dừng xe trước cửa quán rồi xuống xe đi vào vị trí đầu xe rút 02 sợi dây điện ở cổ xe ra đấu vào với nhau để trộm cắp, còn Q ngồi lên xe của M để cảnh giới. Sau khi đấu điện nổ được máy xe, M ngồi lên xe đề nổ máy phóng nhanh về huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, Q phóng xe của M đi phía sau. M mang đi bán chiếc xe được 6.000.000đ và chia cho Q 3.000.000đ. Toàn bộ số tiền này Q đã tiêu sài cá nhân hết.
Lần thứ sáu: Khoảng 15 giờ ngày 30/7/2024, Q gọi điện thoại rủ M đi trộm cắp tài sản, M đồng ý. Sau đó, M điều khiển chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave, màu xanh đi đến đón Q rồi chở Q đi đến thành phố V để trộm cắp tài sản. Khoảng hơn 17 giờ cùng ngày, lúc này trời đang mưa, Q và M phát hiện chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, BKS 19AA - 075.65 của anh Nguyễn Ngọc Đ1 đang dựng trước sân nhà hàng H4 ở đường N, phường L, TP V, tỉnh Vĩnh Phúc. Quan sát xung quanh không có ai trông giữ, quản lý chiếc xe này nên M dừng xe cảnh giới, Q xuống xe, đi đến vị trí chiếc xe. Sau đó, Q dắt lùi chiếc xe trên được khoảng 20cm đến 30cm thì bị anh Đ1; anh Vương Đức T4, anh Nguyễn Văn L1 và quần chúng nhân dân bắt quả tang còn M đã điều khiển xe mô tô chạy thoát. Cơ quan Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ của Q 01 mũi vam phá khóa màu bạc dài khoảng 07cm, bên trên in chữ “YTB”; 01 đầu vam phá khóa, có phần tay cầm màu đỏ đen; 01 mũ bảo hiểm màu đen, 01 bộ quần, áo mưa màu đen kẻ trắng ngang vai. Sau đó, cơ quan điều tra đưa Q cùng toàn bộ vật chứng về trụ sở làm việc.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra xác định ngoài 06 lần thực hiện hành vi trộm cắp như đã nêu trên, Q cùng Nguyễn Công T5 đi đến thành phố V để trộm cắp tài sản là xe mô tô rồi mang bán lấy tiền tiêu sài cá nhân, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Sáng ngày 20/01/2024, Q gặp Nguyễn Công T5 và hẹn nhau khoảng 10 giờ đến thành phố V để trộm cắp xe mô tô bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Sau đó, Q đi chơi ở huyện Y, tỉnh Bắc Ninh thì gặp T6 (T6 là bạn xã hội của Q, nhưng Q không biết tên tuổi, địa chỉ T6 ở đâu). Do biết T6 mua xe mô tô trộm cắp nên Q bảo T6 lát đến vòng xuyến Quất L2, huyện B để mang xe Q trộm cắp về bán cho T6, T6 đồng ý. Đến khoảng hơn 10 giờ cùng ngày, Q điều khiển chiếc xe mô tô Honda, loại Wave không gắn BKS của Q đến đón T5 đi trộm cắp xe mô tô. Khoảng 10 giờ 38 phút ngày 20/01/2024, khi đang đi trên đường T, phường K, thành phố V thì T5 và Q phát hiện 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 88AB-223.96 của anh Lưu Quang V đang dựng trên vỉa hè trước cửa hàng điện thoại Mạnh Cường M1, địa chỉ: Số nhà F, đường T, phường K, thành phố V (anh V dựng chiếc xe trên trước cửa hàng để vào mua phụ kiện điện thoại). Quan sát xung quanh không có người trông giữ, quản lý chiếc xe mô tô này nên Q đứng cảnh giới, T5 xuống xe rồi đi bộ đến vị trí dựng chiếc xe mô tô trên rồi cúi người xuống, luồn tay phải vào trong hốc dưới cánh yếm giật đứt 02 sợi dây điện nổi đến ổ khóa điện, sau đó đấu vào với nhau, nguồn điện ổ khóa được mở. Sau khi mở được ổ khóa, T5 ngồi lên yên xe để nổ máy và điều khiển xe vừa trộm cắp được đi theo xe do Q điều khiển, nhanh chóng di chuyển ra đường N, rẽ trái ra Quốc lộ B đến trạm thu phí cũ thuộc xã Q, huyện B và cất giấu xe ở vị trí ven đường. Q bảo T5 để xe ở đây, một lúc sau có người của Q đến đem xe đi tiêu thụ. Sau đó, Q điều khiển xe mô tô chở T5 quay lại thành phố V tiếp tục tìm tài sản để trộm cắp.
Lần thứ hai: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 20/01/2024, khi T5 và Q đang đi trên đường L, phường Đ, thành phố V thì phát hiện 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS: 88H1 - 354.57 của chị Ngô Thị Thu H3 đang dựng trước cửa nhà, trên yên phía sau xe có buộc 01 bó hoa. Quan sát xung quanh không có ai trông giữ, quản lý chiếc xe này, cửa nhà đang đóng nên Q dừng xe lại đứng cảnh giới, còn T5 xuống xe đi bộ đến vị trí chiếc xe trên. T5 đứng ở vị trí đầu xe bên phải, cúi người xuống luồn tay phải vào hốc dưới cánh yếm giật đứt 02 sợi dây điện của ô khóa điện rồi đấu phần lõi đồng của 02 dây điện lại với nhau thì mở được nguồn điện. Sau đó, T5 ngồi lên yên xe mô tô để nổ máy, nhanh chóng di chuyển theo xe máy do Q điều khiển. Cả hai đi ra đường tránh V rồi đi theo đường BOT về hướng trạm thu phí Q1 Khi đang đi trên đường B thuộc địa phận xã T, thành phố V, Q bảo T5 dừng xe lại, Q xuống giao xe máy trộm cắp được cho T6 và một nam giới không rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể để người này mang xe về xã K, huyện S, thành phố Hà Nội tiêu thụ. Sau đó, Q điều khiển xe mô tô của Q chở T5 quay lại thành phố V để tiếp tục trộm cắp tài sản.
Khoảng 12 giờ 50 phút cùng ngày, khi T5 và Q đi đến khu vực trước cửa số nhà D, đường N, phường K, thành phố V, Q điều khiển xe chở T5 đi chậm để quan sát xem có ai để xe máy sơ hở tiếp tục trộm cắp thì bị Tổ công tác Công an thành phố V phát hiện. Lúc này, Q phóng xe bỏ chạy thoát, còn T5 bị lực lượng Công an bắt giữ. Cơ quan Công an tiến hành lập biên bản sự việc, đưa T5 về trụ sở làm việc còn Q bỏ trốn đến ngày 30/7/2024 thì bị bắt quả tang.
Ngày 23/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố V đã ra Yêu cầu định giá tài sản số 299, 300/YC-ĐCSHS yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thành phố V định giá 02 chiếc xe mô tô mà T5 và Q đã trộm cắp được ngày 20/01/2024.
Tại Bản kết luận định giá số 09, 10/KL-HĐĐG cùng ngày 26/01/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thành phố V kết luận:
- Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave A, BKS: 88AB- 223.96 trị giá 18.000.000₫ (Mười tám triệu đồng)
- Chiếc mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 88H1- 354.57 trị giá 15.000.000₫ (Mười lăm triệu đồng). Tổng trị giá của 02 chiếc xe mô tô trên là 33.000.000₫ (Ba mươi ba triệu đồng).
Ngày 01/8/2024 và 02/8/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố V đã ra Yêu cầu định giá tài sản số 3052, 3056, 3057, 3058, 3059, 3060/YC-ĐCSHS yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thành phố V định giá đối với 06 chiếc xe mô tô mà Q và M trộm cắp được vào các ngày 15/7/2024, 19/7/2024, 24/7/2024, 27/7/2024 và 30/7/2024. Ngày 08/8/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thành phố V có Bản kết luận định giá số 94, 95, 96, 97, 98, 99/KL-HĐĐG, theo đó kết luận:
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, BKS: 19AA- 057.65 trị giá 19.000.000₫ (Mười chín triệu đồng).
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, BKS: 88K1- 501.22 trị giá 19.000.000đ (Mười chín triệu đồng).
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, BKS: 19AG- 034.63 trị giá 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng).
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, BKS: 19AA- 111.49 trị giá 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng).
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, BKS: 88B1- 373.34 trị giá 19.000.000₫ (Mười chín triệu đồng).
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, BKS: 88AK- 011.46 trị giá 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng).
Cơ quan điều tra đã thông báo cho anh Nguyễn Ngọc Đ1, chị Đỗ Thị N1, anh Hà Hồng T7, anh Nguyễn Duy H2, anh Hoàng Xuân T1, anh Nguyễn Quốc K và Nguyễn Duy Q biết nội dung 06 bản kết luận định giá tài sản nêu trên tất cả đều đồng ý với số tiền định giá, không ai ý kiến thắc mắc gì.
Ngày 20/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố V đã ra Yêu cầu định giá số 4415/YC-ĐCSHS yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thành phố V định giá đối với 02 chiếc mũ bảo hiểm mà Q và M đã trộm cắp được của anh Nguyễn Duy H2 vào ngày 19/7/2024. Ngày 25/12/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thành phố V đã có công văn từ chối định giá đối với 02 chiếc mũ nêu trên.
Ngày 01/11/2024, Cơ quan CSĐT Công an Thành phố V có công văn đề nghị Tập đoàn C cung cấp thông tin chủ thuê bao các số điện thoại 0356.876.xxx và 0982.816.454 và cung cấp chi tiết lịch sử cuộc gọi đến, cuộc gọi đi, cuộc gọi nhỡ, tin nhắn đi, tin nhắn đến của 02 số thuê bao nêu trên trong thời gian từ 01/7/2024 đến 30/7/2024. Ngày 22/12/2024, Tập đoàn C cung cấp thông tin nêu trên trong đó xác định chủ thuê bao số điện thoại 0356.876.xxx do Q sử dụng là “Lê N2, sinh ngày 27/8/1949 ở xã X, huyện Đ, thành phố Hà Nội” và xác định chủ thuê bao số điện thoại 0982.816.xxx do M sử dụng là “Nguyễn Thị L3, sinh năm 1985 trong thời gian từ ngày 01/7/2024 đến ngày 30/7/2024, hai số thuê bao nêu trên có liên lạc giữa các ngày 19/07/2024, 24/07/2024, 25/07/2024, 30/7/2024 trùng khớp với các ngày xảy ra các vụ trộm cắp tài sản. Cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc với chị Nguyễn Thị L3 xác định chị L3 khai nhận không đăng ký và không sử dụng số thuê bao nêu trên, hiện tại chị L3 đang sử dụng số điện thoại 0379.925.xxx là số điện thoại chính chủ duy nhất đứng tên chị L3.
Tại Cáo trạng số: 16/CT-VKSNDTPVY ngày 23/01/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên đã truy tố Nguyễn Duy Q về tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm c, g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Duy Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng.
Bị hại: Anh Nguyễn Quốc K tại phiên tòa trình bày như bản cáo trạng nêu trên, quá trình điều tra anh K được bị cáo bồi thường số tiền 10.000.000đ, đến nay anh K không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.
Chị Đỗ Thị N1, anh Nguyễn Duy H2, anh Hoàng Xuân T1, anh Hà Hồng T2, anh Nguyễn Ngọc Đ1, anh Lưu Quang V, chị Ngô Thị Thu H3 tại phiên tòa vắng mặt nhưng tại bản tự khai đều khai nhận như bản cáo trạng nêu trên. Quá trình điều tra bị cáo Q đã tác động gia đình để gia đình bồi thường cho gia đình anh Lưu Quang V số tiền 9.000.000đ, chị Ngô Thị Thu H3 số tiền 7.500.000đ, chị Đỗ Thị N1 số tiền 9.500.000đ, anh Hoàng Xuân T1 số tiền 9.500.000đ, anh Hà Hồng T2 số tiền 10.000.000đ, anh Nguyễn Duy H2 số tiền 10.000.000đ. Đến nay anh V, chị H3, chị N1, anh K, anh T1, anh T2 và anh H2 đã nhận đủ số tiền trên, không yêu cầu bị cáo bồi thường khoản tiền gì.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy Q phạm tội: “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng điểm c, g khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy Q từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù. Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 mũi vam phá khóa màu bạc dài khoảng 07cm, bên trên in chữ “YTB”, 01 đầu vam phá khóa, có phần tay cầm màu đỏ đen; 01 mũ bảo hiểm màu đen; 01 bộ quần, áo mưa màu đen kẻ trắng ngang vai; 01 chiếc dép của Nguyễn Duy Q.
Đối với các xe mô tô BKS: 88AB- 223.96 của anh Lưu Quang V; xe mô tô BKS 88H1- 354.57 của chị Ngô Thị Thu H3; xe mô tô BKS: 88K1- 501.22 của chị Đỗ Thị N1; xe mô tô BKS: 19AA-111.49 của anh Nguyễn Duy H2; xe mô tô BKS: 88AK - 011.46 của cháu Nguyễn Quốc K; xe mô tô BKS: 88B1 - 373.34 của cháu Hoàng Xuân T1 và xe mô tô BKS: 19AG-034.63 của anh Hà Hồng T2, quá trình điều tra không thu giữ được, Cơ quan điều tra tiếp tục truy tìm, khi nào truy tìm được sẽ đề nghị xử lý sau.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị cáo Q đã tác động gia đình để bồi thường gia đình anh Lưu Quang V số tiền 9.000.000đ, bồi thường cho chị Ngô Thị Thu H3 số tiền 7.500.000đ; bồi thường cho chị Đỗ Thị N1 số tiền 9.500.000đ; bồi thường cho cháu Hoàng Xuân T1 số tiền 9.500.000đ; bồi thường cho anh Hà Hồng T2 số tiền 10.000.000đ; bồi thường cho cháu Nguyễn Quốc K số tiền 10.000.000đ; bồi thường cho anh Nguyễn Duy H2 số tiền 10.000.000đ. Gia đình anh V, chị H3, chị N1, cháu K, cháu T1, anh T2 và anh H2 đã nhận đủ số tiền trên và không yêu bị cáo bồi thường khoản tiền gì nên về trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét giải quyết.
Bị cáo Nguyễn Duy Q không bào chữa và tranh luận gì. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Duy Q tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Trong khoảng thời gian từ ngày 15/7/2024 đến ngày 30/7/2024, Nguyễn Duy Q cùng một đối tượng Q khai nhận là Nguyễn Công M (hiện chưa xác định được M đang ở đâu) 06 lần lét lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố V với tổng trị giá tài sản theo kết luận định giá là 117.000.000đ, cụ thể:
Lần thứ nhất: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 15/7/2024, Nguyễn Duy Q cùng đối tượng tên M đã lén lút trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhân hiệu Honda Wave, màu xanh, BKS: 88K1-501.22 của chị Đỗ Thị N1 đang dựng trên vỉa hè trước cửa quán trà sữa TocoToco, địa chỉ tại số F đường T, phường K, thành phố V. Sau đó, Q giao chiếc xe cho M mang đi bán được 6.000.000đ. M chia cho Q 3.000.000đ và Q đã tiêu xài cá nhân hết. Trị giá chiếc xe trên của chị N1 theo kết luận định giá là 19.000.000₫.
Lần thứ hai: Khoảng 10 giờ 40 phút ngày 19/7/2024, Nguyễn Duy Q cùng đối tượng tên M đã lén lút trộm cắp 01 chiếc xe Honda Wave, màu đen, gắn BKS: 19AA-111.49, và 02 chiếc mũ bảo hiểm của anh Nguyễn Duy H2 đang dựng trên vỉa hè trước cửa phòng tập võ “Happy” ở số C, đường N, phường K, thành phố V. Sau đó, Q giao chiếc xe cho M đi bán được 6.000.000đ. M chia cho Q 3.000.000₫ và Q đã tiêu xài cá nhân hết. Trị giá chiếc xe trên và 02 mũ bảo hiểm của anh H2 theo kết luận định giá là 20.000.000đ.
Lần thứ ba: Khoảng 19 giờ 55 phút ngày 24/07/2024, Nguyễn Duy Q cùng đối tượng tên M đã lén lút trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, BKS: 88AK - 011.46 của anh Nguyễn Quốc K đang dựng trên vỉa hè trước cửa quán L4 trên đường N, phường L, thành phố V. Sau đó, Q giao chiếc xe cho M mang đi bán được 6.000.000đ và chia cho Q 3.000.000đ. Q đã tiêu xài cá nhân hết.Trị giá chiếc xe trên của anh K theo kết luận định giá là 20.000.000đ.
Lần thứ tư: Khoảng 21 giờ ngày 24/7/2024, Nguyễn Duy Q cùng đối tượng tên M đã lén lút trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh bạc, BKS: 88B1 373.34 của anh Hoàng Xuân T1 đang dựng trên vỉa hè trước cửa quán L5 có địa chỉ lô S, đường T, phường L, thành phố V. Sau đó, Q giao chiếc xe cho M mang đi bán được 6.000.000đ và chia cho Q 3.000.000đ. Q đã tiêu xài cá nhân hết. Trị giá chiếc xe trên của cháu T1 theo kết luận định giá là 19.000.000đ.
Lần thứ năm: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 27/7/2024, Nguyễn Duy Q cùng đối tượng tên M đã lén lút trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ, BKS: 19AG-034.63 của anh Hà Hồng T2 đang dựng trên vỉa hè trước cửa quán P, số C đường P, phường K, thành phố V. Sau đó, Q giao chiếc xe cho M mang đi bán được 6.000.000đ. M chia cho Q 3.000.000₫ và Q đã tiêu xài cá nhân hết. Trị giá chiếc xe trên của anh T2 theo kết luận định giá là 20.000.000đ.
Lần thứ sáu: Khoảng 17 giờ ngày 30/7/2024, Nguyễn Duy Q cùng M thực hiện hành vi trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, BKS 19AA- 057.65 của anh Nguyễn Ngọc Đ1 đang dựng trước sân nhà hàng H4 ở dường N, phường L, thành phố V. Khi Q đang dắt lùi chiếc xe trên được khoảng 20cm đến 30cm thì bị quần chúng nhân dân bắt quả tang còn M đã điều khiển xe mô tô chạy thoát. Trị giá chiếc xe trên của anh Đ1 theo kết luận định giá là 19.000.000₫.
Ngoài ra, ngày 20/01/2024, Nguyễn Duy Q cùng Nguyễn Công T5 02 lần lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố V với tổng trị giá tài sản chiếm đoạt theo kết luận định giá là 33.000.000đ, cụ thể:
Lần thứ nhất: Khoảng 10 giờ 38 phút ngày 20/01/2024, Q cùng T5 đã lén lút trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhân hiệu Honda Wave, BKS: 88AB - 223.96 của anh Lưu Quang V đang dựng trên via hè trước cửa số nhà F, đường T, phường K, thành phố V. Sau khi trộm cắp được chiếc xe trên, T5 đã điều khiển xe đem đi cất giấu tại vị trí ven đường gần trạm thu phí cũ thuộc xã Q, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc. Trị giá chiếc xe trên của anh V theo kết luận định giá tài sản là 18.000.000đ.
Lần thứ 02: Khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày 20/01/2024, T5 cùng Q tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS: 88H1- 354.57 của chị Ngô Thị Thu H3 để tại trước cửa số nhà C, đường L, phường Đ, thành phố V. Sau khi trộm cắp được chiếc xe trên, T5 điều khiển xe đến vị trí đường BOT thuộc địa phận xã T, thành phố V, giao xe cho một nam giới không rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể (do Q gọi đến) để người này mang xe về xã K, huyện S tiêu thụ. Sau đó, T5 quay lại thành phố V để tiếp tục trộm cắp thì bị Cơ quan Công an phát hiện bắt giữ. Trị giá chiếc xe trên của chị H3 theo kết luận định giá tài sản là 15.000.000đ.
Tổng trị giá tài sản mà Nguyễn Duy Q cùng các đồng phạm trộm cắp tài sản của các bị hại theo kết luận định giá trong 08 lần nêu trên là 149.000.000đ (Một trăm bốn mươi chín triệu đồng).
Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Duy Q đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c, g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 có khung hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
Nội dung điều luật quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có trị giá từ 2.000.000đ đến dưới 50.000.000đ ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm;
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
c, Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000đ đến dưới 200.000.000₫
g. Tái phạm nguy hiểm”.
Hành vi phạm tội của bị cáo Q là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an, an toàn xã hội. Do vậy, cần phải xử lý thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo phạm tội theo điểm c, g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 có mức cao nhất của khung hình phạt tù đến 7 năm nên theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 9 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì trường hợp nêu trên thuộc tội phạm nghiêm trọng.
Bị cáo Q là người có nhân thân xấu, có 02 tiền án về tội:“Trộm cắp tài sản”, tại Bản án số 68/2020 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xử phạt 3 năm tù về tội: “Trộm cắp tài sản” bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng là “Tái phạm”, bị cáo chưa được xóa án tích lại phạm tội do cố ý, nên lần phạm tội này bị cáo bị áp dụng tình tiết định khung là:“ Tái phạm nguy hiểm”. Trong tháng 7/2024, bị cáo Q cùng người tên M liên tục thực hiện 6 vụ trộm cắp xe mô tô với trị giá là 117.000.000đ; trong tháng 1/2024, bị cáo cùng T5 02 lần trộm cắp xe mô tô với trị giá là 33.000.000đ. Cơ quan điều tra đã xác minh tại địa phương thì Q có cùng vợ bán quán nước và còn đi làm sipper thêm, thu nhập như thế nào địa phương không xác định được. Do đó chưa đủ cơ sở để xác định hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo Q có tính chất chuyên nghiệp, tuy nhiên Q phải chịu tình tiết tăng nặng là phạm tội 2 lần trở lên theo điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo đã tác động gia đình để bồi thường thiệt hại cho các bị hại, đến nay các bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường khoản tiền gì nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Căn cứ hành vi phạm tội của bị cáo cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000₫ đến 50.000.000đ. Tuy nhiên, tại phiên tòa xác định bị cáo không nghề nghiệp, thu nhập ổn định và không có tài sản nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Đối với những người có liên quan:
Đối với Nguyễn Công T5 là người đi trộm cắp tài sản cùng Qngày 20/01/2024, quá trình điều tra xác định, hành vi nêu trên của Nguyễn Công T5 đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 01 năm 06 tháng tù giam về tội trộm cắp tài sản trong một vụ án khác. Do vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý gì đối với T5.
Đối với Nguyễn Công M là người Q khai nhận cùng Q thực hiện 06 vụ trộm cắp tài sản, khi bị bắt quả tang thì M đã chạy trốn. Quá trình điều tra, Q khai nhận không biết cụ thể địa chỉ của M nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, khi nào có căn cứ sẽ đề nghị xử lý sau.
Đối với người tên T6 mà Q khai nhận là được Q bảo đi đến khu vực vòng xuyến Q, huyện B mang xe mô tô trộm cắp về bán cho Q. Quá trình điều tra căn cứ vào lời khai của T5 và Q xác định người này tên T6, khoảng 25-30 tuổi, cao khoảng 1m70, mặc quần màu xám, áo màu đen, đội mũ bảo hiểm màu đen. Q khai nhận không biết cụ thể địa chỉ của T6, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
Do chưa xác định được nhân thân của đối tượng T6 và M nên không xác định được người đã tiêu thụ các tài sản đã bị trộm cắp, Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, khi nào có căn cứ đề nghị xử lý sau.
[6] Về vật chứng:
Đối với 01 mũi vam phá khóa màu bạc dài khoảng 07cm, bên trên in chữ “YTB”; 01 đầu vam phá khóa, có phần tay cầm màu đỏ đen; 01 mũ bảo hiểm màu đen; 01 bộ quần, áo mưa màu đen kẻ trắng ngang vai là công cụ Q sử dụng khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản đều đã cũ đã qua sử dụng, Q không có nhu cầu nhận lại nên cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với 01 chiếc dép của Quang bỏ lại tại thời điểm Cơ quan Công an kiểm tra hành chính lập biên bản sự việc, quá trình điều tra Q khai nhận đó là chiếc dép Q sử dụng để đi trộm cắp tài sản ngày 20/01/2024 cùng T5, chiếc dép này đã cũ, đã qua sử dụng, Q không có nhu cầu nhận lại, do vậy cần tịch thu, tiêu huỷ.
Đối với 02 mũ bảo hiểm của anh Nguyễn Duy H2, quá trình điều tra anh H2 khai nhận đây là 02 mũ bảo hiểm của anh H2, anh H2 đã mua từ lâu không nhớ rõ địa điểm mua và giá tiền mua, ngày 19/7/2024, anh H2 để 02 mũ bảo hiểm nêu trên trên chiếc xe mô tô nhân hiệu Honda Wave a, màu đen, gắn BKS: 19AA- 111.49 thì bị Nguyễn Duy Q và Nguyễn Công M trộm cắp mất, quá trình di chuyển Q và M đã vứt lại 02 mũ bảo hiểm nêu trên trên đường nhưng không nhớ rõ vị trí. Cơ quan điều tra đã yêu cầu định giá đối với 02 chiếc mũ nêu trên, tuy nhiên Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự UBND thành phố V từ chối định giá, anh H2 không có yêu cầu Q bồi thường thiệt hại đối với 02 chiếc mũ nêu trên, do vậy, cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
Đối với chiếc xe mô tô Q sử dụng để cùng Nguyễn Công T5 đi trộm cắp tài sản tại thành phố V, quá trình điều tra căn cứ vào lời khai của T5 và Q xác định chiếc xe này là loại xe Honda Wave không gắn BKS do Q mua ở khu vực quận C, thành phố Hà Nội vào cuối năm 2023. Ngày 20/01/2024, Q đã sử dụng chiếc xe trên đón T5 đi đến thành phố V để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, khi bị Cơ quan Công an kiểm tra hành chính, Q đã điều khiển chiếc xe trên bỏ chạy thoát, sau đó Q bán lại chiếc xe trên cho T6 với giá 5.000.000đ, đến nay chưa thu giữ được phương tiện, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
Đối với chiếc xe mô tô loại Honda Wave màu xanh, không BKS, Nguyễn Công M sử dụng đề cùng Nguyễn Duy Q đi trộm cắp tài sản tại thành phố V, quá trình điều tra Q khai nhận nguồn gốc chiếc xe trên là của M, ngày 30/7/2024, M sử dụng chiếc xe trên đón Q đi đến thành phố V để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, khi thấy Q bị người dân bắt giữ, M đã điều khiển chiếc xe trên bỏ chạy thoát, đến nay chưa thu giữ được phương tiện, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
Đối với các xe mô tô BKS: 88AB- 223.96 của anh Lưu Quang V; xe mô tô BKS 88H1- 354.57 của chị Ngô Thị Thu H3; xe mô tô BKS: 88K1- 501.22 của chị Đỗ Thị N1; xe mô tô BKS: 19AA-111.49 của anh Nguyễn Duy H2; xe mô tô BKS: 88AK - 011.46 của anh Nguyễn Quốc K; xe mô tô BKS: 88B1 - 373.34 của anh Hoàng Xuân T1; xe mô tô BKS: 19AG-034.63 của anh Hà Hồng T2, quá trình điều tra không thu giữ được, Cơ quan điều tra tiếp tục truy tìm, khi nào truy tìm được sẽ đề nghị xử lý sau.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra xác định bị cáo Q cùng một người theo Q khai tên là M thực hiện 06 vụ trộm cắp tài sản, Cơ quan điều tra chỉ bắt được bị cáo Q, còn M bỏ chạy trốn. Bị cáo Q đã tác động gia đình để bồi thường cho các bị hại với số tiền bằng 50% giá trị thiệt hại cụ thể: Anh Lưu Quang V 9.000.000đ, chị Ngô Thị Thu H3 7.500.000đ, chị Đỗ Thị N1 9.500.000đ, anh Hoàng Xuân T1 9.500.000đ, anh Hà Hồng T2 10.000.000đ, anh Nguyễn Quốc K 10.000.000đ, anh Nguyễn Duy H2 số tiền 10.000.000đ. Anh V, chị H3, chị N1, anh K, anh T1, anh T2 và anh H2 đã nhận đủ số tiền trên và không yêu bị cáo bồi thường khoản tiền gì nên về trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét giải quyết.
[8] Về án phí: Bị cáo Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy Q phạm tội: “Trộm cắp tài sản".
2. Về Điều luật áp dụng và hình phạt: Căn cứ điểm c, g khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Duy Q 5 (năm) năm 6 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 30/7/2024)
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 mũi vam phá khóa màu bạc dài khoảng 07cm, bên trên in chữ “YTB”, 01 đầu vam phá khóa có phần tay cầm màu đỏ đen; 01 mũ bảo hiểm màu đen; 01 bộ quần, áo mưa màu đen kẻ trắng ngang vai; 01 chiếc dép của Nguyễn Duy Q (đặc điểm tang vật như biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/3/2025).
4.Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Luật án phí, lệ phí Tòa án; nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Duy Q phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đã ký Nguyễn Thị Đường |
Bản án số 28/2025/HS-ST ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 28/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt Nguyễn Duy Q 05 năm 06 tháng tù, thời h ạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 30/7/2024
