|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 28/2025/HS-ST Ngày: 25/02/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC - TỈNH KIÊN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Tâm
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Ngô Rạng Đông
- Bà Nguyễn Thị Thu Ba
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Yến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc tham gia phiên tòa: Ông Lê Hữu Nghị - Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 19/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Phạm Thanh T, Sinh ngày 11/4/2001, tại: B, tỉnh Bình Phước; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không.
Nơi ĐKTT: Tổ A, khu phố K, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang; Chỗ ở: Ấp C, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang; Quốc tịch: Việt Nam,Dân tộc: Kinh,Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không;Trình độ học vấn: 4/12; Cha: Phạm Văn K, sinh năm 1976, còn sống; Mẹ: Phan Thị L, sinh năm 1985, còn sống; Em: 02 người, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2005; Chồng: Nguyễn Hoàng N, sinh năm 1994; Con: 01 người, sinh năm 2024.
* Tiền án, Tiền sự: Chưa.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.( bị cáo có mặt)
2. Họ và tên: Trầm Minh S, Sinh ngày 19/11/1984, tại: T, tỉnh Trà Vinh; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Quắn.
Nơi ĐKTT: Ấp C, xã Đ, huyện T, tỉnh Trà Vinh; Chỗ ở: Hẻm F, tổ F, khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh,Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 3/12; Cha: Trầm Minh Đ, sinh năm 1956, còn sống; Mẹ: Trần Thị S1, sinh năm 1956, còn sống; Chị, anh: 03 người, lớn nhất sinh năm 1977, nhỏ nhất sinh năm 1983; Vợ: Nguyễn Thị Thanh X, sinh năm 1989; Con: 01 người, sinh năm 2011.
* Tiền án, Tiền sự: Chưa.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/10/2024 ( Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 08 giờ 30 phút, ngày 14/10/2024, Phạm Thanh T dùng điện thoại di động hiệu OPPO của T để gọi qua zalo cho nick name tên “Bé G” (chưa rõ nhân thân) hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá, Bé G hẹn địa điểm mua bán ma túy ở khu vực đoạn đường P, thuộc khu phố E, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang, T đồng ý. Sau đó T mượn xe mô tô hiệu Sirius của D (chưa rõ nhân thân, D không biết T đi mua ma túy) điều khiển chạy đến điểm hẹn, D bán cho T một đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa ma túy, T trả số tiền 248.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T điều khiển xe mô tô đi trả cho D. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, T đi bộ đến nhà của Trầm Minh S, thuộc tổ F, khu phố A, phường D, thành phố P, T đi vào phòng ngủ rủ S sử dụng ma túy, S đồng ý, T lấy ma túy đưa cho S, S lấy bình thủy tinh có gắn đầu nỏ thủy tinh đổ ma túy vào đầu nỏ, S dùng quẹt gas đốt ma túy rồi T và S lần lượt sử dụng ma túy. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, thì lực lượng Công an đến kiểm tra phát hiện bắt quả tang T và S đang sử dụng trái phép chất ma túy, thu giữ 01 bình thủy tinh có gắn một ống hút bằng nhựa, 01 đầu nỏ bên trong đầu nỏ có chứa chất bám dính, 01 đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa ma túy. Đến ngày 22/10/2024, Trầm Minh S và Phạm Thanh T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P khởi tố, S bị tạm giam, T bị cấm đi khỏi nơi cư trú để điều tra.
* Tang vật thu giữ:
- + 01 nỏ thủy tinh, bên trong đầu nỏ thủy tinh có chứa chất bám dính (thu giữ trong phòng ngủ của Trầm Minh S), được niêm phong.
- + 01 đoạn ống nhựa màu trắng, được hàn kín hai đầu, kích thước khoảng 01cm x 02cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng không đồng nhất (thu giữ trong phòng ngủ của Trầm Minh S), đã được niêm phong.
- + 01 quẹt gas, đã qua sử dụng;
- + 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh, số imei 1: 357533645559526/01, số imei 2: 358833705559526/01, đã qua sử dụng (thu giữ của Phạm Thanh T).
* Kết luận giám định số 1133/KL-KTHS ngày 22/10/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh K kết luận:
- - Gói 01: Chất bám dính chứa trong 01 nỏ thủy tinh được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,0924 gam.
- - Gói 02: Các hạt tinh thể rắn màu trắng, không đồng chứa trong 01 đoạn ống nhựa được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,0975 gam.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của chính phủ.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định số 1133/KL - KTHS ngày 22/10/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh K.
Tại bản cáo trạng số: 33/CT-VKSPQ ngày 15 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc truy tố các bị cáo Phạm Thanh T; Trầm Minh S về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 255 BLHS năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Phạm Thanh T; Trầm Minh S về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 255 BLHS năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 255 BLHS; điểm s, n khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 BLHS; xử phạt Phạm Thanh T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 255 BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Điều 38 BLHS; xử phạt Trầm Minh S từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Về biện pháp tư pháp: Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý vật chứng theo quy định gồm:
+ Tịch thu tiêu hủy:
- - Gói 01: Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng là 0,0307 gam được đựng trong 01 bịch nylon và bao gói đựng mẫu, tất cả được niêm phong trong 01 phong bì có ký hiệu vụ số 1156/2024 Gói 01.
- - Gói 02: Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng là 0,0817 gam được đựng trong 01 bịch nylon và bao gói đựng mẫu, tất cả được niêm phong trong một phong bì có ký hiệu vụ số 1156/2024 Gói 02.
- + 01 quẹt gas, đã qua sử dụng;
Tịch thu sung ngân sách nhà nước:
+ 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh, số imei 1: 357533645559526/01, số imei 2: 358833705559526/01, đã qua sử dụng (bị cáo T liên lạc mua ma túy).
Tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến gì đối với bản cáo trạng và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã công bố và không tranh luận gì đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đã truy tố.
Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, tang vật thu giữ được trong vụ án, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Từ lời khai nhận và các chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên bị cáo T rủ bị cáo S sử dụng ma túy, bị cáo T người trực tiếp mua ma tuý còn bị cáo S đưa ra công cụ sử dụng ma túy cho cả hai sử dụng ma túy tại phòng ngủ của bị cáo S, trong lúc đang sử dụng ma tuý thì bị lực lượng Công an phường D đến kiểm tra và bắt quả tang.
Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Phạm Thanh T; Trầm Minh S đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 255 BLHS năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, đây là hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Do đó cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3]. Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Các bị cáo nhận thức được ma tuý là loại độc dược được Nhà nước độc quyền quản lý, mọi hành vi như sản xuất, mua bán, tàng trữ, vận chuyển, chiếm đoạt, sử dụng.... trái phép chất ma tuý đều bị nghiêm cấm. Vào thời điểm thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức được việc rủ rê, tập hợp nhóm bạn cùng nhau sử dụng trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật. Nhưng để thỏa mãn nhu cầu sử dụng trái phép chất ma tuý bị cáo T là người mua ma túy đem lại nhà bị cáo S rủ sử dụng ma túy. Xét vai trò của các bị cáo thì bị cáo T có vai trò thứ nhất trong vụ án, bị cáo S có vai trò thứ hai, nên bị cáo T phải chịu mức hình phạt nghiêm khắc hơn.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm, nên cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người tốt, đồng thời phòng ngừa chung cho xã hội đối với loại tội phạm này.
[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa và quá trình điều tra các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình và biết ăn năn hối cải; Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51, bị cáo T khi phạm tội đang mang thai nên áp dụng điểm n khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 thể hiện được chính sách khoan hồng của Đảng và pháp luật Nhà nước.
[5]. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
+ Tịch thu tiêu hủy:
- - Gói 01: Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng là 0,0307 gam được đựng trong 01 bịch nylon và bao gói đựng mẫu, tất cả được niêm phong trong 01 phong bì có ký hiệu vụ số 1156/2024 Gói 01.
- - Gói 02: Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng là 0,0817 gam được đựng trong 01 bịch nylon và bao gói đựng mẫu, tất cả được niêm phong trong một phong bì có ký hiệu vụ số 1156/2024 Gói 02.
- + 01 quẹt gas, đã qua sử dụng;
Tịch thu sung ngân sách nhà nước:
+ 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh, số imei 1: 357533645559526/01, số imei 2: 358833705559526/01, đã qua sử dụng (của bị cáo T sử dụng liên lạc mua ma túy)
[6]. Đối với đối tượng có tên zalo “Bé Gà” bán ma túy cho Phạm Thanh T, Cơ quan Cảnh sát điều tra đang tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.
Đối với D (chưa rõ nhân thân) không có lỗi trong việc giao xe mô tô cho bị can Phạm Thanh T thực hiện hành vi phạm tội, nên không xử lý.
Đối với khối lượng ma túy thu giữ còn lại trong đoạn ống nhựa là 0,0975 gam ma túy, loại Methamphetamine, đang tổ chức sử dụng bị bắt quả tang còn lại chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, nên không xử lý.
Đối với khối lượng ma túy thu giữ còn lại trong nỏ thủy tinh là 0,0924 gam gam ma túy, loại Methamphetamine, đang được sử dụng, không thể tàng trữ để tiếp tục sử dụng cho mục đích khác, nên không xử lý về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
[7]. Về quan điểm của Viện kiểm sát: Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đề nghị về tội danh, mức hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, biện pháp tư pháp đối với các bị cáo là có căn cứ, Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
[8]. Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ pháp luật: Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thanh T, Trầm Minh S phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 255 BLHS; điểm s, n khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 BLHS.
Xử phạt : Phạm Thanh T 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị chấp hành án.
Áp dụng khoản 1 Điều 255 BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 BLHS .
Xử phạt : Trầm Minh S 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 14/10/2024.
2. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
+ Tịch thu tiêu hủy:
- - Gói 01: Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng là 0,0307 gam được đựng trong 01 bịch nylon và bao gói đựng mẫu, tất cả được niêm phong trong 01 phong bì có ký hiệu vụ số 1156/2024 Gói 01.
- - Gói 02: Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng là 0,0817 gam được đựng trong 01 bịch nylon và bao gói đựng mẫu, tất cả được niêm phong trong một phong bì có ký hiệu vụ số 1156/2024 Gói 02.
- + 01 quẹt gas, đã qua sử dụng;
Tịch thu sung ngân sách nhà nước:
+ 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh, số imei 1: 357533645559526/01, số imei 2: 358833705559526/01, đã qua sử dụng (của bị cáo T sử dụng liên lạc mua ma túy)
(Tang vật trên đã được chuyển giao cho Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Phú Quốc theo biên bản chuyển giao vật chứng ngày 16/01/2025 ).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
Các bị cáo mỗi người người phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang; -VKSND TP. Phú Quốc; - Nhà tạm giữ TP. Phú Quốc; - Đội tổng hợp CA TP. Phú Quốc; - CCTHA TP. Phú Quốc; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lê Thị Hồng Tâm |
Bản án số 28/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC - TỈNH KIÊN GIANG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 28/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC - TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sử dụng ma tuý
