Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 4 - TỈNH QUẢNG TRỊ

Bản án số: 28/2025/HS - ST

Ngày: 24 - 12 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Nam

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Nhã và ông Lê Thuận Sơn

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thơm - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Triều - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 12 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Quảng Trị xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số: 28/2025/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2025; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2025 đối với:

- Bị cáo Lê Văn N, sinh ngày 15 tháng 3 năm 1996 tại xã N, tỉnh Quảng Trị; Nơi đăng ký thường trú: Thôn D, xã N, tỉnh Quảng Trị; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Lê Văn C, sinh năm: 1961, Con bà: Nguyễn Thị T, sinh năm: 1963; Tiền án, tiền sự: không

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/8/2025 cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, theo Lệnh trích xuất bị cáo có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Ông Lê Văn C, sinh năm 1961, địa chỉ thường trú: thôn D, xã N, tỉnh Quảng Trị, có mặt;
  • - Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1963, địa chỉ thường trú: thôn D, xã N, tỉnh Quảng Trị, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 10 giờ 15 phút ngày 28/8/2025, tổ công tác của Công an xã N, tỉnh Quảng Trị tuần tra, kiểm soát trên địa bàn, khi đi đến đoạn đường bê tông giáp đường tỉnh lộ 564B thuộc địa phận thôn D, xã N, phát hiện đối tượng Lê Văn N (sinh năm 1996, trú tại thôn D, xã N) có biểu hiện nghi vấn. Tiến hành kiểm tra, tổ công tác phát hiện trong lòng bàn tay phải của Lê Văn N có 01 (một) túi nilon chứa 08 (tám) viên nén hình tròn, màu hồng, dạng thuốc tân dược, N thừa nhận số viên nén nêu trên là ma túy loại hồng phiến do N mua được, mang đi sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang. Tổ công tác đã lập biên bản, tạm giữ, niêm phong tang vật để xử lý theo quy định của pháp luật.

Ngày 28/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Văn N thuộc thôn D, xã N. Quá trình khám xét, Lê Văn N tự nguyện giao nộp 01 (một) túi nilon màu hồng bên trong chứa 26 (hai mươi sáu) viên nén hình tròn, màu hồng, dạng thuốc tân dược và 01 (một) túi nilon trong suốt bên trong chứa chất tinh thể màu trắng. Lê Văn N khai nhận đó là ma túy do N mua về cất giấu để sử dụng.

Tiến hành xét nghiệm chất ma tuý đối với Lê Văn N vào ngày 28/8/2025, kết quả đối tượng dương tính với M.

Ngày 03/9/2025, Phòng K Công an tỉnh Q có Kết luận giám định số: 1109/KL-KTHS, kết luận:

  • - 08 (tám) viên nén hình tròn, màu hồng, trên một mặt mỗi viên có in chữ "WY" thu giữ trong quá trình bắt quả tang là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,801g (không phẩy tám trăm linh một gam).
  • - 26 (hai mươi sáu) viên nén hình tròn, màu hồng, trên một mặt mỗi viên có in chữ "WY" thu giữ trong quá trình khám xét là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 2,568g (hai phẩy năm trăm sáu mươi tám gam).
  • Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, số thứ tự: 247, Danh mục IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
  • - Chất tinh thể được chứa trong túi nilon trong suốt thu giữ trong quá trình khám xét là chất ma tuý, loại Ketamine, khối lượng: 0,121g (không phẩy một trăm hai mươi mốt gam).
  • Ketamine nằm trong danh mục các chất ma túy, số thứ tự: 40, Danh mục III, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật: Ngày 28/8/2028, Công an tỉnh Q đã tạm giữ các đồ vật, tài liệu gồm:

  • + 01 (một) túi nilon màu hồng, bên trong có chứa 08 (tám) viên nén hình tròn, màu hồng, dạng tân dược.
  • + 26 (hai mươi sáu) viên nén hình tròn, màu hồng, dạng tân dược.
  • + 01 (một) túi nilon trong suốt, bên trong chứa các chất tinh thể màu trắng.

Quá trình giám định, Phòng K Công an tỉnh Q đã sử dụng hết: 0,332g (không phẩy ba trăm ba mươi hai gam) ma túy, loại Methamphetamine của mẫu ký hiệu A1, A2; Mẫu ký hiệu A3. Hoàn trả lại sau giám định 3,037g (ba phẩy không trăm ba mươi bảy gam) ma túy Methamphetamine và toàn bộ vỏ bao gói cho Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Q (đã được niêm phong).

Về nguồn gốc số ma túy, Lê Văn N khai mua ma túy từ một người đàn ông ở xã T tình cờ quen khi đi ăn đám cưới, không rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được đối tượng đã bán ma túy cho N.

Tại Bản cáo trạng số: 12/CT-VKS ngày 01/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Quảng Trị đã truy tố bị cáo Lê Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, được sửa đổi bổ sung theo khoản 18 Điều 1 Luật số 86/2015/QH15 ngày 25/6/2025;

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đã phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng; Giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS, được sửa đổi bổ sung theo khoản 18 Điều 1 Luật số 86/2015/QH15 ngày 25/6/2025; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo N từ 42 tháng đến 48 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu, tiêu hủy 3,037g (ba phẩy không trăm ba mươi bảy gam) ma túy Methamphetaminecòn lại sau giám định là chất cấm và toàn bộ vỏ bao gói không có giá trị sử dụng;

Đề nghị tuyên buộc bị cáo N chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà, bị cáo N thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng, và Bản luận tội của Viện kiểm sát, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, Cơ quan Điều tra, cơ quan Truy tố đã thực hiện đúng chức năng, thẩm quyền, ban hành các quyết định tố tụng theo đúng trình tự pháp luật quy định.

[2] Hội đồng xét xử xem xét, đánh giá hành vi của bị cáo bị truy tố:

Tại phiên tòa, bị cáo N đã khai nhận hành vi của mình, cụ thể: Khoảng tháng 7/2025, khi dự đám cưới ở xã N, tỉnh Quảng Trị, N quen và nói chuyện riêng với một người đàn ông, người này giới thiệu ở xã T, tỉnh Quảng Trị và cũng thường xuyên sử dụng ma tuý. Sáng ngày 25/8/2025, trong quá trình đi chợ D, xã N, N gặp lại người này. Do nhu cầu cần ma tuý dạng hồng phiến để sử dụng nên N gọi người này ra phía sau chợ D hỏi có biết ai bán không để mua 2.000.000 đồng, mục đích để cất dùng dần. Người này nói 12h30 ngày 25/8/2025 đến lại phía sau chợ D sẽ có người đưa ma tuý loại hồng phiến giao. Đến giờ hẹn, N đi bộ ra phía sau chợ D thì chính người đàn ông này điều khiển xe máy đến giao cho N 01 (một) gói nilon màu hồng và đưa cho thêm 01 (một) túi nilon trong suốt, trong đó có các tinh thể màu trắng và nói rằng đây là ketamin tặng kèm cho N. Sau khi N trả 2.000.000 đồng, người này điều khiển xe máy rời khỏi nơi giao hàng. Về nhà N kiểm tra lại thì trong túi nilon màu hồng có 40 viên ma tuý tổng hợp loại hồng phiến. Trong tổng số ma tuý mua được, N đã sử dụng một mình hết 06 viên ma tuý loại hồng phiến và một ít ma tuý dạng ketamin vào ngày 26/8/2025 tại nhà của N, phù hợp với việc N dương tính với Methamphetamine khi tiến hành xét nghiệm ma tuý sau khi bị bắt. Sáng ngày 28/8/2025, N tiếp tục lấy 08 viên ma tuý loại hồng phiến trong tổng số đã mua được định đi tìm chỗ sử dụng thì vào lúc 10 giờ 15 phút ngày 28/8/2025 bị tổ công tác của Công an xã N, tỉnh Quảng Trị tuần tra, kiểm soát trên địa bàn, khi đi đến đoạn đường bê tông giáp đường tỉnh lộ 564B thuộc địa phận thôn D, xã N, phát hiện lập biên bản, tạm giữ, niêm phong tang vật để xử lý. Ngày 28/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Văn N thuộc thôn D, xã N. Quá trình khám xét, Lê Văn N tự nguyện giao nộp 01 túi nilon màu hồng bên trong chứa 26 viên nén hình tròn, màu hồng, dạng thuốc tân dược và 01 túi nilon trong suốt bên trong chứa chất tinh thể màu trắng.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án.

Tại Kết luận giám định số: 1109/KL-KTHS Ngày 03/9/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận:

  • - 08 (tám) viên nén hình tròn, màu hồng, trên một mặt mỗi viên có in chữ "WY" thu giữ trong quá trình bắt quả tang là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,801g (không phẩy tám trăm linh một gam).
  • - 26 (hai mươi sáu) viên nén hình tròn, màu hồng, trên một mặt mỗi viên có in chữ "WY" thu giữ trong quá trình khám xét là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 2,568g (hai phẩy năm trăm sáu mươi tám gam).
  • - Chất tinh thể được chứa trong túi nilon trong suốt thu giữ trong quá trình khám xét là chất ma tuý, loại Ketamine, khối lượng: 0,121g (không phẩy một trăm hai mươi mốt gam).
  • Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, số thứ tự: 247, Danh mục IIC; Ketamine nằm trong danh mục các chất ma túy, số thứ tự: 40, Danh mục III, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Nhận thức được ma túy là chất cấm do Nhà nước độc quyền quản lý nhưng để thỏa mãn nhu cầu không lành mạnh của cá nhân mà đã cố tình thực hiện hành vi mua mục đích cất trữ để sử dụng trái phép là xâm phạm chế độ quản lý nhà nước đối với chất ma túy. Do vậy, hành vi của bị cáo N đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 18 Điều 1 Luật số 86/2015/QH15 ngày 25/6/2025. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Quảng Trị đã truy tố và Bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo N không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4]. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và xem xét áp dụng hình phạt đối với bị cáo:

Ma túy là loại chất gây nghiện, gây hại lớn cho sức khỏe con người, ảnh hưởng xấu tới chất lượng giống nòi, nguồn lực lao động chính phát triển xã hội; Là nguồn nguy cơ, mầm mống của nhiều tội phạm khác. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm mất trật tự, trị an tại địa phương, gây bất bình cho quần chúng nhân dân. Tội phạm ma túy ngày càng diễn biến phức tạp, vì vậy để răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội, đồng thời có hình thức cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, trừng trị nghiêm khắc đối với loại tội phạm này.

Về hình phạt bổ sung: nhận thấy công việc và thu nhập của bị cáo không ổn định, do đó miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Đối tượng, hành vi liên quan trong vụ án: Lê Văn N khai mua ma túy từ một người đàn ông ở xã T tình cờ quen khi đi ăn đám cưới, không rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được đối tượng đã bán ma túy cho N nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xử lý.

Ông Lê Văng C1 và bà Nguyễn Thị T ở cùng nhà với bị cáo nhưng không biết bị cáo mua, sử dụng, cất trữ ma tuý nên không xem xét trách nhiệm đối với ông C1, bà T.

Hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của bị cáo đã bị xử lý theo Quyết định xử phạt hành chính số 0009826 ngày 12/11/2025 của Trưởng Công an xã N, tỉnh Quảng Trị, Hội đồng xét xử không xem xét thêm.

[6] Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, nhận thấy 3,037g (ba phẩy không trăm ba mươi bảy gam) ma túy Methamphetamine còn lại sau giám định là chất cấm và toàn bộ vỏ bao gói không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu và tiêu hủy.

[7] Án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136; Điều 260; khoản 1 Điều 268, khoản 1 Điều 269; khoản 1 Điều 298; khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 18 Điều 1 Luật số 86/2015/QH15 ngày 25/6/2025; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Tuyên xử:

1. Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Lê Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Xử phạt bị cáo Lê Văn N 48 (Bốn mươi tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 28/8/2025.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 3,037g (ba phẩy không trăm ba mươi bảy gam) ma túy Methamphetaminecòn lại sau giám định và toàn bộ vỏ bao gói.

Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/12/2025 giữa Cơ quan điều tra Công an tỉnh Q và Thi hành án Dân sự Khu vực 4, tỉnh Quảng Trị.

3. Án phí Hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Lê Văn N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào Ngân sách Nhà nước.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

- VKSNDKV4 - Quảng Trị;

- VKSND tỉnh Quảng Trị;

- Cơ quan điều tra CA tỉnh Quảng Trị;

- PV 06 Công an tỉnh Quảng Trị;

- THADS KV4 - Quảng Trị;

- TAND tỉnh Quảng Trị;

- Bị cáo, NCQLNVLQ;

- Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Trần Thị Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2025/HS - ST ngày 24/12/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 4 - tỉnh Quảng Trị về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 28/2025/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Khu vực 4 - tỉnh Quảng Trị
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn Nghĩa bị truy tố về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger