Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2025/HS-ST

Ngày 24 - 6 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Bùi Thị Thảo

Các Hội thẩm nhân dân: ông Vũ Văn Tu và ông Phạm Văn Hậu

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy Chinh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Trọng Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Dương Văn T, sinh năm 1992 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: thôn F, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn P (đã mất) và bà Hồ Thị Đ; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 20/12/2024 đến ngày 26/12/2024 chuyển tạm giam tại Trại tam giam công an tỉnh N đến nay (có mặt).

2. Lê Đình C, sinh năm 1981 tại tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: số nhà A, đường H, Phố T, thị trấn Y, huyện Y, Ninh Bình; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Xuân T1 và bà Nguyễn Thị L; có vợ là Đỗ Thị Thu L1 và có 03 con (con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2018); tiền án: không; tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 73/QĐ-XPHC Ngày 19/6/2014 của Công an huyện Y, tỉnh Ninh Bình xử phạt 1.500.000 đồng đối với Lê Đình C về hành vi trộm cắp tài sản; ngày 14/01/2025 gia đình mới nộp 1.500.000 đồng tiền xử phạt vi phạm hành chính cho Lê Đình C.

Nhân thân: Ngày 31/5/2000 bị đưa vào trường giáo dưỡng với thời hạn 24 tháng theo Quyết định số 718 của UBND tỉnh N.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 20/12/2024 đến ngày 26/12/2024 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh N đến nay (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: chị Đỗ Thị Thu L1, sinh năm 1984; nơi cư trú: số nhà A, đường H, Phố T, thị trấn Y, huyện Y, Ninh Bình (có mặt).

- Người làm chứng: Chị Vũ Thị Kim C1, sinh năm 1972; chị Trần Thị H, sinh năm 1993; anh Phạm Văn T2, sinh năm 1992; anh Phan Trọng T3, sinh năm 1976; anh Lương Huy S, sinh năm 1978 (đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Dương Văn T là lái xe thuê cho Công ty TNHH T6, có trụ sở tại thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc. Thân được Công ty giao điều khiển và sử dụng phương tiện xe ô tô tải BKS: 88H-015.32 để vận chuyển hàng hóa từ các tỉnh phía Bắc vào các tỉnh phía Nam và ngược lại theo yêu cầu của Công ty. Trong quá trình vận chuyển hàng hóa Thân quen biết qua mạng xã hội với một người phụ nữ tên Q ở tỉnh Long An sử dụng tài khoản zalo có tên là “Luois” lập bằng số điện thoại 0376.419.xxx. Sáng ngày 17/12/2024, người phụ nữ tên Q liên hệ đến tài khoản Zalo của T có tên là “Người vẫn chuyển” lập bằng số điện thoại 0926.297.xxx để thuê T vận chuyển 113 thùng thuốc lá điếu, do nước ngoài sản xuất từ tỉnh Long An đến thành phố Hà Nội, với giá 300.000 đồng/1 thùng và thống nhất khi xe đi đến khu vực thành phố Hà Nội thì sẽ có người chủ động gọi cho T để nhận hàng và thanh toán tiền cước vận chuyển. T đồng ý vận chuyển và điều khiển xe ô tô tải BKS: 88H-015.32 đến khu vực khu Công nghiệp X, huyện Đ, tỉnh Long An để nhận 113 thùng thuốc lá điếu theo hướng dẫn của người phụ nữ tên Q. Tại đây, T được một người đàn ông không quen biết, điều khiển xe tải loại 2,5 tấn (Thân không nhớ biển kiểm soát) chở 113 thùng thuốc lá điếu đến và chuyển lên thùng xe tải của T.

Sau khi nhận xong số thuốc lá điếu của người phụ nữ tên Q thì Dương Văn T được Lê Đình C cũng là lái xe tải Bắc Nam đã quen biết từ trước, gọi điện thuê vận chuyển 162 thùng thuốc lá điếu, gồm 17 thùng thuốc lá điếu do Trung Quốc sản xuất, 90 thùng thuốc lá điếu do nước ngoài sản xuất và 55 thùng thuốc lá điếu nhãn hiệu Thăng Long từ thành phố Hồ Chí Minh đến bãi hàng hóa Đ đường D thuộc xã M, huyện Y, tỉnh Ninh Bình, với giá cước vận chuyển là 80.000 đồng/ 1 thùng thuốc lá điếu nhãn hiệu Thăng Long và 180.000 đồng/1 thùng thuốc lá điếu do nước ngoài sản xuất. T đồng ý điều khiển xe từ tỉnh Long An đến khu vực bãi rác thuộc đường N, quận A, thành phố Hồ Chí Minh để nhận 162 thùng thuốc lá điếu của Lê Đình C. Khi đến nơi T đã thấy các thùng thuốc lá điếu để phủ bạt tại ven đường như chỉ dẫn của C, nên đã bốc toàn bộ 162 thùng thuốc lá trên lên thùng xe, sau đó điều khiển xe ô tô tải BKS: 88H-015.32 vận chuyển toàn bộ số thuốc lá của người phụ nữ tên Q và của Lê Đình C trên đến các tỉnh phía Bắc.

Sáng ngày 20/12/2024, T điều khiển xe đến bãi bốc xếp hàng hóa Đ đường D thuộc xã M, huyện Y, tỉnh Ninh Bình rồi gọi điện cho C để giao hàng; khi T đang dừng đỗ để giao số thùng thuốc lá điếu cho C thì bị tổ công tác Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh N yêu cầu kiểm tra. Do sợ bị phát hiện Thân đã điều khiển xe ô tô bỏ chạy theo hướng cao tốc C - M, khi xe đi đến khu vực trạm thu phí C2 thì bị Cơ quan Công an dừng xe và yêu cầu T về trụ sở Phòng Cảnh sát kinh tế, Công an tỉnh N để làm việc.

Tiến hành kiểm tra phát hiện trên thùng hàng xe ô tô tải BKS: 88H - 015.32 do Dương Văn T điều khiển có 275 thùng các tông, bên trong đựng 141.100 bao thuốc lá điếu các loại. Trong đó có 113.600 bao thuốc lá điếu do nước ngoài sản xuất, không có tem nhập khẩu, không có hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc xuất xứ và 27.500 bao thuốc lá điếu in nhãn hiệu Thăng Long do Việt Nam sản xuất.

Phòng Cảnh sát kinh tế đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong, tạm giữ toàn bộ số hàng hóa trên;tạm giữ xe ô tô BKS: 88H - 015.32, nhãn hiệu: HINO, số khung: RNJFG8JT7MXL12237, số máy: J08E-WE13414, màu sơn: trắng, đã qua sử dụng và 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường, số EB 0779539 của xe ô tô BKS: 88H - 015.32. Lê Đình C tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Sam sung Galaxy A22, màu đen, trong điện thoại có 01 thẻ sim Vinaphone số 0838.319.xxx và 01 thẻ sim Viettel số 0345.288.xxx; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Oppo Reno 12F5G, màu xanh, trong điện thoại có 01 thẻ sim Viettel số 0345.671.xxx. Dương Văn T tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 14 Prox Max, màu vàng, trong điện thoại có 01 thẻ sim Vietnammobile số 0926.297.465; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung GalaxyA33, màu xanh, trong điện thoại có 01 thẻ sim Viettel số 0979.418.xxx. Các điện thoại tạm giữ của Dương Văn T và Lê Đình C, đều đã qua sử dụng, được niêm phong theo đúng quy định.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Đình C tại thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình và Dương Văn T tại thôn F, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Kết quả Cơ quan điều tra không phát hiện và thu giữ thêm đồ vật, tài liệu gì.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã trích mẫu 33.940 bao thuốc lá điếu các loại từ 113.600 bao thuốc lá điếu thu giữ của Dương Văn T và Lê Đình C để Trưng cầu V - Bộ C3 giám định: 113.600 bao thuốc lá điếu thu giữ của Dương Văn T và Lê Đình C có phải là thuốc lá điếu thành phẩm không, có được Việt Nam nhập khẩu, sản xuất để tiêu thụ tại thị trường Việt Nam không.

Tại kết luận giám định số: 10178/KL-KTHS ngày 25/12/ 2024 của V - Bộ C3 kết luận: toàn bộ 33.940 bao thuốc lá điếu các loại được trích mẫu từ 113.600 bao thuốc lá điếu thu giữ của Dương Văn T và Lê Đình C đều là thuốc lá thành phẩm, không có tem điện tử thuốc lá, không đủ điều kiện để nhập khẩu lưu thông trên thị trường Việt Nam và đều là thuốc lá điếu không được Việt Nam sản xuất để tiêu thụ tại Việt Nam.

Cơ quan Cảnh sát điều tra làm việc với Công ty T7 để thu thập mẫu thuốc lá điếu, loại bao cứng do Công ty T7 sản xuất làm mẫu so sánh, phục vụ công tác giám định. Ngày 09 tháng 01 năm 2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành Trưng cầu Viện khoa học hình sự - Bộ C3 giám định: 27.500 bao thuốc lá điếu, loại bao cứng in nhãn hiệu Thăng Long thu giữ của Dương Văn T và Lê Đình C có phải là thuốc lá điếu do nhà máy T8 sản xuất không.

Tại kết luận giám định số: 275/KL-KTHS ngày 15/01/2025 của V - Bộ C3 kết luận: toàn bộ 27.500 bao thuốc lá điếu in nhãn hiệu Thăng Long gửi giám định đều là thuốc lá điếu, đều không cùng loại với mẫu thuốc lá điếu nhãn hiệu Thăng Long do Công ty T7 sản xuất, cung cấp làm mẫu so sánh.

Ngày 18/02/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra gửi Yêu cầu định giá tài sản số: 774/YC-CSKT đến Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự tỉnh Ninh Bình để xác định giá trị tài sản đối với 27.500 bao thuốc lá điếu, loại bao cứng, giả nhãn hiệu thuốc lá Thăng Long.

Tại kết luận định giá tài sản số: 04/KL-HĐĐGTS ngày 04/4/2025 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự tỉnh Ninh Bình kết luận: 27.500 bao thuốc lá điếu, loại bao cứng, giả nhãn hiệu thuốc lá Thăng Long tại thời ngày 20/12/2024 có trị giá 337.425.000 đồng.

Về nguồn gốc 162 thùng thuốc lá điếu do Lê Đình C thuê Dương Văn T vận chuyển, tài liệu điều tra xác định: Trong thời gian làm nghề lái xe tải vận chuyển hàng hóa từ các tỉnh phía Bắc đi các tỉnh phía Nam, thông qua mạng xã hội Lê Đình C có quen một người phụ nữ tự giới thiệu tên D (không rõ địa chỉ, tên tuổi cụ thể) ở tỉnh Thái Bình. Lê Đình C đã sử dụng tài khoản bằng ứng dụng Watsapp “Lê Đình C” được lập bằng số điện thoại 0345.671.xxx kết bạn với tài khoản Watsapp “Sen Kô” được lập bằng số điện thoại 0973.908.xxx của người phụ nữ đó. Ngày 15/12/2024, người phụ nữ trên đã thuê Lê Đình C vận chuyển 162 thùng thuốc lá điếu các loại trong đó có 17 thùng thuốc lá nhãn hiệu Chunghwa, Filter cigarettes, do Trung Quốc sản xuất, tương ứng với 9.180 bao; 90 thùng thuốc lá nhãn hiệu Peel Greek yogurt tương ứng với 45.000 bao thuốc lá điếu, do nước ngoài sản xuất và 55 thùng thuốc lá có nhãn hiệu Thăng Long do Việt Nam sản xuất, tương ứng với 27.500 bao thuốc lá điếu, từ thành phố Hồ Chí Minh đến các tỉnh phía Bắc. Lê Đình C đồng ý vận chuyển và thống nhất với giá 350.000 đồng/ 1 thùng thuốc lá do nước ngoài sản xuất và 90.000 đồng/ 1 thùng thuốc lá Thăng Long do Việt Nam sản xuất. Sau đó người phụ nữ trên đã thanh toán cho Lê Đình C số tiền 41.700.000 đồng bằng hình thức chuyển tiền từ tài khoản số 6338683888888 ngân hàng Q1 mở tại tỉnh Hưng Yên mang tên Trần Thị H đến số tài khoản ngân hàng số 0838319047 ngân hàng V1 mang tên Lê Đình C. Do thời điểm này C đang ở nhà tại thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình, nên sau khi nhận vận chuyển số thuốc lá trên C đã gọi điện thuê Dương Văn T cũng là lái xe tải Bắc Nam do C quen biết từ trước vận chuyển 162 thùng thuốc lá trên để hưởng chênh lệch số tiền thuê vận chuyển. T đồng ý vận chuyển cho Lê Đình C với giá 180.000 đồng/ 1 thùng thuốc lá do nước ngoài sản xuất, 80.000 đồng/1 thùng thuốc lá có nhãn hiệu Thăng Long và thống nhất giao nhận tại bãi Đ thuộc xã M, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. C chưa thanh toán số tiền vận chuyển cho T.

* Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu và xử lý vật chứng:

- Vật chứng, đồ vật đã thu giữ của Dương Văn T và Lê Đình C, gồm:

  • + 01 xe ô tô mang Biển kiểm soát 88H-015.32, nhãn hiệu: HINO, số khung: RNJFG8JT7MXL12237, số máy: J08E-WE13414, màu sơn: trắng, đã qua sử dụng và 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường, số EB 0779539 của xe ô tô BKS: 88H - 015.32.
  • + 141.600 bao thuốc lá điếu các loại, trong đó có 113.600 (một trăm mười ba nghìn sáu trăm) bao thuốc lá do nước ngoài sản xuất, không có tem nhập và 27.500 bao thuốc lá giả nhãn hiệu Thăng Long, được niêm phong theo quy định.
  • + Lê Đình C tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Sam sung Galaxy A22, màu đen, trong điện thoại có 01 thẻ sim Vinaphone số 0838.319.xxx và 01 thẻ sim Viettel số 0345.288.xxx; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Oppo Reno 12F5G, màu xanh, trong điện thoại có 01 thẻ sim Viettel số 0345.671.xxx.
  • + Dương Văn T tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 14 Prox Max, màu vàng, trong điện thoại có 01 thẻ sim Vietnammobile số 0926.297.465; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy A33, màu xanh, trong điện thoại có 01 thẻ sim Viettel số 0979.418.xxx.

Các điện thoại do Dương Văn T và Lê Đình C giao nộp, đều đã qua sử dụng, được niêm phong theo đúng quy định.

- Xử lý vật chứng:

  • + Đối với chiếc xe ô tô Biển kiểm soát: 88H - 015.32, Dương Văn T sử dụng vận chuyển thuốc lá điếu ngày 20 tháng 12 năm 2024. Quá trình điều tra xác định chiếc xe ô tô trên thuộc quyền sở hữu hợp pháp của của Công ty TNHH T6 có trụ sở tại CL12-B39, đường N, khu đô thị Đ, phường T, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc do anh Nguyễn Xuân T4, sinh năm 1986, trú tại tổ E, phường T, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc làm Giám đốc. Việc T sử dụng chiếc xe ô tô trên làm phương tiện vận chuyển thuốc lá điếu Công ty TNHH T6 hoàn toàn không biết và cũng không được hưởng lợi gì. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe ô tô trên cho Công ty TNHH T6 do anh Nguyễn Xuân T4 làm Giám đốc.
  • + Số vật chứng còn lại sau giám định được bảo quản tại kho vật chứng thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N, gồm: 79.660 bao thuốc lá điếu, đều là thuốc lá thành phẩm, không có tem điện tử thuốc lá, không đủ điều kiện để nhập khẩu lưu thông trên thị trường Việt Nam, là thuốc lá điếu không được Việt Nam sản xuất để tiêu thụ tại Việt Nam; 20.500 bao thuốc lá giả nhãn hiệu thuốc lá Thăng Long; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Sam sung Galaxy A22; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Oppo Reno 12F5G, thu giữ của Dương Văn T; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 14 Prox Max, màu vàng và 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy A33, màu xanh, thu giữ của Lê Đình C. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình đã ra quyết định chuyển toàn bộ số vật chứng, đồ vật trên đến kho vật chứng Cục thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình để quản lý, chờ xử lý theo quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra Dương Văn T và Lê Đình C đều thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 15/CT-VKS-P1 ngày 13 tháng 5 năm 2025 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình đã truy tố các bị cáo Dương Văn T, Lê Đình C về tội “Vận chuyển hàng cấm” áp dụng điểm b khoản 3, khoản 4 Điều 191 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo Dương Văn T, Lê Đình C thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tại phiên tòa sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, xem xét hậu quả do hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Dương Văn T và Lê Đình C, phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

Áp dụng điểm b khoản 3, khoản 4 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt:

  • - Bị cáo Dương Văn T từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù, phạt tiền bổ sung từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng;
  • - Bị cáo Lê Đình C từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù, phạt tiền bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.

* Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu sung ngân sách nhà nước toàn bộ số tiền 41.138.041 đồng thu lợi bất chính từ việc “Vận chuyển hàng cấm” của Lê Đình C; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Oppo Reno 12F5G, màu xanh, IMEI 1: 867650075980510, IMEI 2: 867650075980502; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 14 Prox Max, màu vàng, IMEI 1: 358686327915884, IMEI 2: 358686327595066, trong điện thoại có 01 thẻ sim Vietnammobile số 0926.297.465 thu giữ của Dương Văn T (các bị cáo sử dụng điện thoại để thực hiện hành vi phạm tội).
  • - Tịch thu tiêu hủy toàn bộ 79.660 bao thuốc lá điếu còn lại sau giám định, đều là thuốc lá thành phẩm, không có tem điện tử thuốc lá, không đủ điều kiện để nhập khẩu lưu thông trên thị trường Việt Nam, là thuốc lá điếu không được Việt Nam sản xuất để tiêu thụ tại Việt Nam; 20.500 bao thuốc lá còn lại sau giám định, giả nhãn hiệu thuốc lá T.
  • - Trả lại cho các bị cáo tài sản cá nhân không liên quan đến hành vi phạm tội, nhưng tiếp tục quản lý để bảo đảm thi hành án, gồm: trả lại cho Lê Đình C 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Sam sung Galaxy A22, màu đen, IMEI 1: 358475772132306, IMEI 2: 359111892132301, trong điện thoại có 01 thẻ sim Vinaphone số 0838.319.xxx và 01 thẻ sim Viettel số 0345.288.xxx; 01 thẻ sim Viettel số 0345.671.xxx thu giữ của Lê Đình C. Trả lại cho bị cáo Dương Văn T 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy A33, màu xanh, IMEI 1: 351494693373672, IMEI 2: 353439743373675, trong điện thoại có 01 thẻ sim Viettel số 0979.418.xxx và 01 giấy phép lái xe hạng C mang tên Dương Văn T.
  • - Tiếp tục phong tỏa tài khoản 0838319047 Ngân hàng V1 - Chi nhánh huyện Y, số tiền 41.138.041 đồng của Lê Đình C, để bảo đảm thi hành án.

Các bị cáo Dương Văn T, Lê Đình C phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa các bị cáo Dương Văn T, Lê Đình C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp với Biên bản khám phương tiện vận tải, đồ vật theo thủ tục hành chính; Biên bản sự việc; Kết luận giám định số 10178/KL-KTHS ngày 25/12/2024, Kết luận giám định số 275/KL-KTHS ngày 15/01/2025 của V - Bộ C3; Kết luận định giá tài sản số: 04/KL-HĐĐGTS ngày 04/4/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Ninh Bình và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận: Ngày 20/12/2024, Dương Văn T và Lê Đình C đã có hành vi vận chuyển trái phép thuốc lá điếu thành phẩm, không có tem điện tử thuốc lá, không đủ điều kiện để nhập khẩu lưu thông trên thị trường Việt Nam và đều là thuốc lá điếu không được Việt Nam sản xuất để tiêu thụ tại Việt Nam, trong đó: Dương Văn T vận chuyển 113.600 bao thuốc lá và Lê Đình C vận chuyển 54.180 bao thuốc lá.

Hành vi của nêu trên của các bị cáo Dương Văn T và Lê Đình C, đã phạm tội “Vận chuyển hàng cấm” thuộc trường hợp “Thuốc lá điếu nhập lậu 4.500 bao trở lên”. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b khoản 3 Điều 191 Bộ luật hình sự.

Điều 191. Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm

1. Người nào tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 239, 244, 246, 249, 250, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

  • ......................;
  • Thuốc lá điếu nhập lậu từ 1.500 bao đến dưới 3000 bao;

2. ................;

...............;

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

  • ..............;
  • Thuốc lá điếu nhập lậu 4.500 bao trở lên;
  • ........;

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình đã truy tố các bị cáo Dương Văn T và Lê Đình C với tội danh và điều luật đã viện dẫn như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, đã vận chuyển hàng hóa mà Nhà nước cấm vận chuyển, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự và an toàn xã hội, gây hoang mang trong dư luận quần chúng nhân dân. Các bị cáo nhận thức rõ được vận chuyển thuốc lá không có hóa đơn, nguồn gốc xuất xứ cho người khác là trái pháp luật nhưng vì hám lợi nên các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy cần xử phạt các bị cáo mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội nhằm mục đích giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức độ tham gia thực hiện hành vi phạm tội để quyết định hình phạt đối với các bị cáo cho phù hợp.

Đối với bị cáo Dương Văn T là lái xe được giao điều khiển xe ô tô tải BKS 88H- 015.32 của Công ty TNHH T6. Bản thân bị cáo nhận thức rõ được việc vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu là vi phạm pháp luật nhưng do hám lợi nên bị cáo vẫn thực hiện. Bị cáo đã vận chuyển 162 thùng thuốc lá điếu cho Lê Đình C từ thành phố Hồ Chí Minh đến tỉnh Ninh Bình với giá 80.000 đồng/01 thùng thuốc lá điếu in nhãn hiệu Thăng Long và 180.000 đồng/ 01 thùng thuốc lá điếu nhập lậu. Ngoài ra bị cáo còn vận chuyển 59.420 bao thuốc lá điếu nhập lậu để trong 113 thùng cát tông cho một người phụ nữa tên Q với giá 300.000 đồng/ thùng từ tỉnh Long An đến thành phố Hà Nội. Ngày 20/12/2024 khi bị cáo điều khiển xe ra đến địa phận bãi chung chuyển hàng hóa Đại Chung thuộc xã M, huyện Y, tỉnh Nình Bình thì bị phát hiện bắt giữ.

Đối với bị cáo Lê Đình C đã nhận vận chuyển thuê cho người phụ nữ tên D không rõ địa chỉ ở tỉnh Thái Bình 54.180 bao thuốc lá điếu nhập lậu để trong 107 thùng cát tông và 27.500 bao thuốc lá điếu in nhãn hiệu Thăng Long để trong 55 thùng cát tông từ thành phố Hồ Chí Minh đến tỉnh Thái Bình với giá 350.000 đồng/thùng thuốc lá nhập lậu và 90.000 đồng/thùng thuốc lá in nhãn hiệu Thăng Long. Bị cáo đã nhận trước số tiền 41.700.000 đồng tiền công do người phụ nữ trên chuyển vào tài khoản V1 mang tên bị cáo. Sau đó bị cáo đã thuê lại Dương Văn T vận chuyển số thuốc lá trên với giá 80.000 đồng/01 thùng thuốc lá điếu in nhãn hiệu Thăng Long và 180.000 đồng/ 01 thùng thuốc lá điếu nhập lậu nhằm hưởng số tiền chênh lệch.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: cả 02 bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, các bị cáo Dương Văn T và Lê Đình C đã ăn năn hối cải; khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; bị cáo Dương Văn T có bố đẻ là ông Dương Văn P tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước, là thương binh hạng 4/4, được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhất, Hội đồng cố vấn Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền nam Việt Nam tặng Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng Ba; gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương; bản thân bị cáo hoàn thành nghĩa vụ quân sự xuất ngũ năm 2015. Bị cáo Lê Đình C có bố đẻ là ông Lê Xuân T1, là thương binh; gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự được áp dụng cho cả hai bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo vận chuyển hàng cấm nhằm mục đích thu lời bất chính, vì vậy cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo để sung ngân sách Nhà nước.

[4] Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý như sau:

Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu giữ số thuốc lá nhập lậu và số thuốc lá in nhãn hiệu Thăng Long, sau khi trích gửi mẫu giám định còn lại gồm: 79.660 bao thuốc lá điếu do nước ngoài sản xuất, không có tem nhập khẩu, không có hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc xuất xứ, được niêm phong trong các thùng bìa các tông theo quy định; 20.500 bao thuốc lá điếu có chữ Thăng Long được niêm phong theo quy định trong 41 (bốn mươi mốt) thùng bìa các tông, cần tịch thu tiêu hủy.

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước:

  • + 01 (một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Oppo Reno 12F5G, màu xanh, IMEI 1: 867650075980510, IMEI 2: 867650075980502, đã qua sử dụng đã thu giữ của bị cáo Lê Đình C do bị cáo đã sử dụng vào việc phạm tội. Đối với 01 (một) thẻ sim Viettel số 0345.671.xxx lắp trong điện thoại, quá trình điều tra xác định thẻ sim trên bị cáo mượn của vợ là chị L1 nên cần trả lại số thẻ sim trên cho chị Đỗ Thị Thu L1.
  • + 01 (một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 14 Prox Max, màu vàng, IMEI 1: 358686327915884, IMEI 2: 358686327595066, trong điện thoại có 01 (một) thẻ sim Vietnammobile số 0926297465, đã qua sử dụng đã thu giữ của bị cáo Dương Văn T do bị cáo đã dùng vào việc phạm tội.
  • + Số tiền 41.138.041 đồng do bị cáo C phạm tội mà có, hiện đang quản lý trong số tài khoản 0838319047 Ngân hàng V1 - Chi nhánh huyện Y của Lê Đình C.
  • - Trả lại cho bị cáo Dương Văn T: 01 (một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy A33, màu xanh, IMEI 1: 351494693373672, IMEI 2: 353439743373675, trong điện thoại có 01 (một) thẻ sim Viettel số 0979.418.xxx, đã qua sử dụng nhưng quản lý lại để đảm bảo cho việc thi hành án; 01 (một) Giấy phép lái xe hạng C của Dương Văn T.
  • - Trả lại cho bị cáo Lê Đình C: 01 (một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Sam sung Galaxy A22, màu đen, IMEI 1: 358475772132306, IMEI 2: 359111892132301, trong điện thoại có 01 (một) thẻ sim Vinaphone số 0838.319.xxx và 01 (một) thẻ sim Viettel số 0345.288.xxx, đã qua sử dụng nhưng quản lý lại để đảm bảo cho việc thi hành án.
  • - Trả lại cho chị Đỗ Thị Thu L1 01 (một) thẻ sim Viettel số 0345.671.xxx hiện đang lắp trong điện thoại nhãn hiệu Oppo Reno 12F5G, màu xanh.

(Chi tiết vật chứng như Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 20/5/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình)

- Tiếp tục duy trì Lệnh phong tỏa tài khoản số 148/LPT-CSKT ngày 03/3/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra đối với số tài khoản 0838319047 Ngân hàng V1 - Chi nhánh huyện Y, tỉnh Ninh Bình của Lê Đình C, số tiền 41.138.041 đồng (bốn mươi mốt triệu, một trăm ba mươi tám nghìn, không trăm bốn mươi mốt đồng) để đảm bảo cho việc thi hành án.

3. Án phí:

Các bị cáo Dương Văn T và Lê Đình C mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai, các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao (01 bản);
  • - VKSND cấp cao (01 bản);
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình (03 bản);
  • - Phòng Kiểm tra thi hành án (06 bản);
  • - Phòng PC03 Công an tỉnh Ninh Bình (01 bản);
  • - Phòng HS&NV Công an tỉnh Ninh Bình (01 bản);
  • - Phòng PC 10 Công an tỉnh Ninh Bình (01 bản);
  • - Bị cáo (02 bản);
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Trại giam (01 bản);
  • - Lưu hồ sơ (02 bản);
  • - Lưu tòa, Tổ hành chính tư pháp (02 bản);
  • (Thông báo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú).

T. M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

đã ký

Bùi Thị Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2025/HS-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH về vận chuyển hàng cấm (tội phạm hình sự)

  • Số bản án: 28/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vận chuyển hàng cấm (Tội phạm hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: dương văn th
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger