|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 28 /2025/HS-ST Ngày: 24-6-2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thu Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Mai
Bà Nguyễn Thị Thuý
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Viết Chung - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Khắc Tú – Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 27/2025/TLST - HS, ngày 06 tháng 6 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Huy P, T gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm 1989, tại huyện B, tỉnh Hải Dương; Trú tại: TDP M, phường P, thị xã C, tỉnh Bắc Giang; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; Con ông: Lê Huy P1, sinh năm 1963; Con bà: Bùi Thị H, sinh năm 1963; Anh, chị em ruột: Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Ngô Kim N, sinh năm 1994 (chưa đăng ký kết hôn, hiện không rõ đang ở đâu). Con: có 01 (một) con, sinh năm 2015;
Tiền án: Không.
Tiền sự: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 11 ngày 27/02/2024 của UBND xã T, huyện L đã xử phạt Lê Huy P số tiền 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Ngày 13/3/2024 P đã chấp hành xong;
Nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1080773 ngày 06/3/2020 của Công an phường M, quận H, thành phố Hà Nội xử phạt Lê Huy P số tiền 350.000 đồng về hành vi “Mua, bán số lô, số đề”. Ngày 10/3/2020, P đã chấp hành xong;
Bị cáo bị bắt tạm giam kể từ ngày 26/3/2025, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Công an tỉnh B – khu vực thị xã C. Có mặt tại phiên tòa
* Bị hại:
- - Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1963; (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt)
- Nơi cư trú: TDP L, phường C, thị xã C, tỉnh Bắc Giang.
- - Nguyễn Thị L1, sinh năm 1973; (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt)
- Nơi cư trú: TDP T, phường C, thị xã C, tỉnh Bắc Giang.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Đỗ Sơn H1, sinh năm 1962; (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt)
- Nơi cư trú: TDP T, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- - Lê Thế D, sinh năm 1986; (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt)
- Nơi cư trú: TDP M, phường C, thị xã C, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Huy P, sinh năm 1989 trú tại tổ dân phố M, phường P, thị xã C, tỉnh Bắc Giang là đối tượng có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản (Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 11 ngày 27/02/2024 của UBND xã T, huyện L, xử phạt số tiền 2.500.000 đồng đối với Lê Huy P về hành vi “Trộm cắp tài sản”; ngày 13/3/2024, P đã nộp tiền phạt). Trong các ngày 24/02/2025 và 25/02/2025, P đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể:
Vụ thứ nhất: Khoảng 19 giờ ngày 24/02/2025, P đi bộ từ nhà đến khu vực nhà trọ của gia đình ông Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1963 tại tổ dân phố L, phường C, thị xã C. Phóng quan sát thấy cổng sắt của khu nhà tro đang mở, bên trong có nhiều phương tiện là xe đạp, xe mô tô, không có ai trông coi, nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Phóng đi bộ vào trong sân của khu nhà trọ, dắt 01 (một) chiếc xe đạp, nhãn hiệu AZURE, loại xe thể thao, màu sơn trắng đi ra ngoài rồi điều khiển xe đi theo hướng Quốc lộ C về huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sáng ngày 25/02/2025, P điều khiển chiếc xe đạp trộm cắp được đến cửa hàng xe đạp “Hải Tám” của ông Đỗ Sơn H1, sinh năm 1962 trú tại tổ dân phố T, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bắc Giang và bán chiếc xe cho ông H1 được số tiền 1.250.000 đồng. Số tiền này P đã chi tiêu cá nhân hết.
Vụ thứ hai: Khoảng 23 giờ ngày 25/02/2025, P đi bộ đến quán ốc “T” của anh Nguyễn Xuân Đ, sinh năm 1997, trú tại tổ dân phố T, phường C, thị xã C, tỉnh Bắc Giang ăn đêm. Sau khi ăn xong, P đi ra quầy để thanh toán tiền thấy 01 (một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy A20S đang để ở bệ cửa sổ, khu vực quầy chế biến của quán (là tài sản của bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1973 trú tại TDP T, phường C, thị xã C, tỉnh Bắc Giang làm giúp việc tại quán). Phóng quan sát thấy không có ai trông coi tài sản nên tiến đến gần, dùng tay cầm chiếc điện thoại rồi đút vào túi quần đang mặc trên người rồi đi ra thanh toán tiền ăn và đi ra về. Khoảng hơn 12 giờ ngày 28/02/2025, P mang chiếc điện di động trộm cắp được đến cửa hàng điện thoại “Anh Dũng” của anh Lê Thế D, sinh năm 1986 trú tại tổ dân phố M, phường C, thị xã C và bán cho anh D được số tiền 500.000 đồng. Số tiền này P đã chi tiêu cá nhân hết.
Đến ngày 01/3/2025, P đến cửa hàng của anh Lê Thế D mua lại chiếc điện thoại đã bán cho anh D.
Ngày 01/3/2025, ông Nguyễn Ngọc L và bà Nguyễn Thị L1 đã có đơn trình báo vụ việc gửi Công an phường C, thị xã C đề nghị giải quyết. Cùng ngày 01/3/2025, Công an phường C đã tiến hành kiểm tra, xác định nơi xảy ra sự việc, thu giữ 02 (hai) đoạn video trích xuất từ camera an ninh của gia đình ông L và 01 (một) đoạn video trích xuất từ camera an ninh của quán Ố, ghi lại diễn biến việc Phóng vụ trộm cắp tài sản.
Công an phường C triệu tập Lê Huy P đến làm việc thì P khai nhận đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản nêu trên và giao nộp 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy A20s, màu sơn xanh rêu, số IMEI1: 353246115113583, số IMEI2: 353247115113581; 01 (một) áo khoác màu xám, có mũ liền áo, khóa kéo màu đen trước ngực, ngực trái có logo chữ B-B-SABERI-11. Tiến hành xét nghiệm chất ma túy đối với P, kết quả: âm tính.
Công an phường C đã cho P xem các đoạn video đã thu giữ, kết quả: Phóng xác định người xuất hiện trong video là bản thân Phóng, có hành vi trộm cắp tài sản là chiếc xe đạp và điện thoại di động, có đặc điểm nêu trên. (BL: 59-65).
Quá trình điều tra thu giữ của ông Đỗ Sơn H1 01 (một) chiếc xe đạp, nhãn hiệu AZURE, loại xe thể thao, màu sơn trắng và ảnh chụp trích xuất từ camera an ninh tại quán mua bán xe đạp của ông H1.
Cơ quan điều tra yêu cầu định giá tài sản đối với tài sản Phóng trộm cắp nêu trên. Bản Kết luận định giá tài sản số 07 và 08 ngày 04/03/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã C xác định: “01 (một) chiếc xe đạp, có đặc điểm nêu trên có giá 1.000.000 đồng; 01 (một) chiếc điện thoại di động, có đặc điểm nêu trên có giá 600.000 đồng”.
Quá trình điều tra, Lê Huy P thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như trên. Cơ quan điều tra cho P xác định hiện trường thực hiện các vụ trộm cắp tài sản, nhận dạng đối với chiếc xe đạp đã trộm cắp của ông Nguyễn Ngọc L; cho ông L, bà L1 nhận dạng chiếc xe đạp, điện thoại đã thu giữ, kết quả: Phóng xác định được hiện trường, vị trí trộm cắp tài sản và chiếc xe đạp đã trộm cắp của ông L; ông L, bà L1 xác định chiếc xe đạp, điện thoại là tài sản của ông, bà đã bị mất trộm.
Đối với Đỗ Sơn H1, Lê Thế D là người mua tài sản (chiếc xe đạp và điện thoại di động) do Lê Huy P trộm cắp. Tuy nhiên, H1, D không biết tài sản đó là do P trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là ông Nguyễn Ngọc L, bà Nguyễn Thị L1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường. Anh Lê Thế D không bị thiệt hại và không có yêu cầu bồi thường. Ngày 01/3/2025 ông Đỗ Sơn H1 đã được P bồi thường số tiền 1.250.000 đồng và không có yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại.
Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 (một) chiếc xe đạp, nhãn hiệu AZURE, màu sơn trắng; 01 (một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy A20s, màu xanh rêu, số IMEI 1: 353246115113583, số IMEI 2: 353247115113581 là tài sản của ông Nguyễn Ngọc L và bà Nguyễn Thị L1. Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông L, bà L1.
Đối với 01 (một) áo khoác màu xám, có mũ liền áo, khóa kéo màu đen trước ngực, ngực trái có logo chữ B-B-SABERI-11 được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Chũ để xử lý theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo Lê Huy P đã khai nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố và thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản của mình là sai, vi phạm pháp luật, sau khi bị phát hiện bị cáo đã chuộc lại tài sản trả cho bị hại, tự nguyện bồi thường cho người liên quan và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai tại cơ quan điều tra đã được HĐXX công bố tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến.
Tại bản Cáo trạng số 28/CT-VKS-TXC ngày 05 tháng 6 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Lê Huy P về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự;
Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chũ giữ quyền công tố tại phiên toà đã luận tội bị cáo, phân tích tính chất, mức độ hành vi của bị cáo, giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ áp dụng pháp luật, hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Huy P từ 06 tháng tù đến 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính tù ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (26/3/2025).
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo cáo Lê Huy P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, có mặt không có tranh luận gì với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo không có ý kiến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chũ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Hội đồng xét xử thấy rằng: Những người này đều đã được triệu tập hợp lệ, những người này đều đã có lời khai tại cơ quan điều tra đã có trong hồ sơ vụ án, không có yêu cầu bổ sung nào khác và đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy sự vắng mặt những người này không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt những người này theo quy định.
[2]. Về hành vi của bị cáo theo nội dung bản cáo trạng đã truy tố: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cùng tang vật thu hồi được và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Lê Huy P, sinh năm 1989 trú tại tổ dân phố M, phường P, thị xã C, tỉnh Bắc Giang là đối tượng có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản. Trong 02 ngày 24/02/2025 và 25/02/2025, Phóng 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể: Vụ thứ nhất: Ngày 24/02/2025, P có hành vi trộm cắp 01 (một) chiếc xe đạp, nhãn hiệu AZURE, màu sơn trắng của ông Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1963 tại tổ dân phố L, phường C, thị xã C có trị giá 1.000.000 đồng; Vụ thứ hai: Ngày 25/02/2025, P có hành vi trộm cắp 01 chiếc điện thoại samsung A20s của bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1973 trú tại TDP T, phường C, thị xã C có trị giá 600.000 đồng. Tổng giá trị tài sản mà Lê Huy P trộm cắp là 1.600.000 đồng (một triệu sáu trăm nghìn đồng). Mặc dù số tiền phạm tội của bị cáo chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng bị cáo đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên hành vi phạm tội này của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chũ đã truy tố và lời luận tội tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên cần được Hội đồng xét xử xem xét và chấp nhận.
[3] Xét về tính chất, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo cho thấy:
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là đối tượng lười lao động, lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản để bán lấy tiền ăn tiêu, bị cáo thực hiện hành vi một cách liều lĩnh, chỉ vì lợi ích cá nhân đã lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác, xâm phạm trực tiếp đến quyền về tài sản được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang lo lắng trong nội bộ quần chúng nhân dân.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo đã bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản và hành vi mua bán số lô, số đề nhưng bị cáo không lấy đó là bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân để trở thành công dân có ích cho xã hội mà lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, chứng tỏ bị cáo là đối tượng khó giáo dục cải tạo. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có đủ điều kiện cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có tình tiết tăng nặng phạm tội 2 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Đối với loại tội này, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền, tuy nhiên Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có công việc ổn định, hoàn cảnh khó khăn, do vậy cần miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
[4] Đối với Đỗ Sơn H1, Lê Thế D là người mua tài sản (chiếc xe đạp và điện thoại di động) do Lê Huy P trộm cắp. Tuy nhiên, H1, D không biết tài sản đó là do P trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là ông Nguyễn Ngọc L, bà Nguyễn Thị L1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường. Anh Lê Thế D không bị thiệt hại và không có yêu cầu bồi thường. Ngày 01/3/2025 ông Đỗ Sơn H1 đã được P bồi thường số tiền 1.250.000 đồng và không có yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[6] Về vật chứng: Đối với 01 (một) chiếc xe đạp, nhãn hiệu AZURE, màu sơn trắng; 01 (một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy A20s, màu xanh rêu, số IMEI 1: 353246115113583, số IMEI 2: 353247115113581 là tài sản của ông Nguyễn Ngọc L và bà Nguyễn Thị L1. Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông L, bà L1 là đúng quy định của pháp luật, do vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Đối với 01 (một) áo khoác màu xám, có mũ liền áo, khóa kéo màu đen trước ngực, ngực trái có logo chữ B-B-SABERI-11 là tài sản không có giá trị. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu, tiêu hủy.
[7] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ áp dụng pháp luật, hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Huy P 06 ( sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính tù ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (26/3/2025).
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) áo khoác màu xám, có mũ liền áo, khóa kéo màu đen trước ngực, ngực trái có logo chữ B-B-SABERI-11.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo cáo Lê Huy P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
Án xử công khai sơ thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Thu Hà |
Bản án số 28/2025/HS-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ, TỈNH BẮC GIANG về hình sự về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 28/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Huy Ph - Trộm cắp tài sản
