Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 12 – CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2025/HS-ST

Ngày 21 – 11 – 2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Diệu

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trương Văn Chung
  2. Ông Nguyễn Quốc Thắng

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Hồng Luyến – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 - Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Quí - Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 17/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 10 năm 20 25 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2025/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:

Lê Thị Hải Y, tên gọi khác: Không; sinh ngày 10/11/1997; nơi sinh: huyện L, tỉnh Hậu Giang. Nơi cư trú: ấp I, xã L, thành phố Cần Thơ, chỗ ở hiện nay: ấp A, xã L, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Tại phiên toà bị cáo khai: Công Giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H và bà Đoàn Thị L; chồng: Lê Văn G, sinh năm 1985; con: có 01 người sinh năm 2017; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bà Lê Thị C, sinh năm 1972 (có mặt).

Nơi cư trú: ấp A, xã L, thành phố Cần Thơ.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Đoàn Văn T, sinh năm 1971 (có mặt).

Nơi cư trú: ấp A, xã L, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào trưa ngày 28/5/2025, Lê Thị Hải Y, đến nhà của bà Lê Thị C, cư trú tại ấp A, xã L, thành phố Cần Thơ (Y là cháu chồng kêu bà C bằng mợ) để bán kem dưỡng da và tẩy da tay cho bà C. Do gia đình bà C mới vừa tổ chức đám cưới con gái xong nên có người đến lấy tiền thuê áo cưới thì bà C vào trong buồng để lấy tiền trả tiền áo cưới. Lúc này, Y thấy nơi cất giấu tiền nên nảy sinh ý định lấy trộm tiền của bà C, Y thấy bà C cất chìa khoá trong túi áo khoác để trên bộ ván ở hành lang nên Y lấy chìa khoá bỏ vào người đợi khi có cơ hội sẽ lấy trộm tiền.

Đến khoảng 07 giờ ngày 29/5/2025, Y tiếp tục đến nhà bà C để giao kem, thời điểm này chỉ có bà C và con gái là Đoàn Thị Hồng H1, sinh năm 2013 đang ở nhà, Y viện cớ nhờ bà C đi mua dùm con vịt về ăn thịt để bà C đi khỏi nhà. Khi bà C đi mua vịt thì Y có đi cùng bà C một đoạn sau đó thì quay lại nhà bà C, lúc này H1 đang nằm võng ngoài hành lang nên Y đi vô nhà trên rồi vào trong buồng, Y nhìn qua cửa sau thấy H1 vẫn đang nằm võng nên lấy chìa khoá mở tủ áo, Y dùng tay lấy cái bọc nilong màu đỏ để trong bọc nilong đựng thiệp màu trắng, khi lấy bọc nilong màu đỏ ra, Y thấy có tiền trong bọc nên đã lấy hết số tiền nhét vào trong túi áo, Y định bỏ cái bọc lại chỗ cũ thì nhìn vào kính tủ áo thấy H1 đang đi vô nên bỏ cái bọc đỏ xuống dưới chân ngay góc tủ và đóng cửa tủ lại nhưng chưa kịp khoá tủ lại thì H1 đi vô tới hỏi Y làm gì thì Y trả lời nói tìm cái đầm của con Y, H1 lại tủ áo tìm tiếp Y, do lo sợ H1 thấy cái bọc đỏ biết Y lấy trộm tiền nên lợi dụng lúc H1 không để ý nên Y lấy cái bọc đỏ còn hai bao lì xì bên trong đem vào phòng H1 để phía sau cặp đi học của H1. Lúc này là khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, bà C về tới nhà, nói mua không có vịt nên Y ra về. Trên đường về không có ai nên Y dừng lại điếm số tiền lấy trộm được là 34.850.000 đồng. Sau khi phát hiện bị mất trộm tiền nên bà C đã đến Công an xã L trình báo sự việc.

Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm có:

  • - Thu giữ tại nhà bà Lê Thị C: 01 bọc kiểu dáng túi xách bằng nilong màu đỏ, bên trong có: một bao lì xì màu đỏ bên trong có 20.150.000 đồng gồm 40 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng và một bao lì xì màu đỏ phía sau có ghi dòng chữ “của hồi môn” bên trong có 03 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng và 19 tờ tiền mệnh giá 500.000 và một bao lì xì có ghi chữ “mẹ” bên trong có 02 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng.
  • - Thu giữ của bị cáo Lê Thị Hải Y: Tiền Việt Nam 34.850.000 đồng. Trong đó: loại tiền polyme có 51 tờ mệnh giá 500.000 đồng, 26 tờ mệnh giá 200.000 đồng, 41 tờ mệnh giá 100.000 đồng, 01 tờ mệnh giá 50.000 đồng.

Tại cáo trạng số 04/CT-VKS-TPCT-P2 ngày 13/10/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Cần Thơ đã truy tố bị cáo Lê Thị Hải Y về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Cần Thơ giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Lê Thị Hải Y về tội danh và điều luật như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị Hải Y phạm tội Trộm cắp tài sản.

Xử phạt: Bị cáo Lê Thị Hải Y mức án từ: 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã L, thành phố Cần Thơ và gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án.

Thời hạn chấp hành án cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự thành phố Cần Thơ nhận được quyết định thi hành án.

Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Việc khởi tố, điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C; việc truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Cần Thơ được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về nội dung giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án chứng minh được: Với động cơ tư lợi cá nhân, muốn nhanh chóng có tiền để trả nợ, khi thấy bà Lê Thị C sơ hở trong việc quản lý tài sản, Lê Thị Hải Y nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của bà C và thực hiện các hành vi cụ thể như sau: Trưa ngày 28/5/2025, Lê Thị Hải Y, đến nhà của bà Lê Thị C để giao mỹ phẩm, Y quan sát thấy bà C cất giấu tiền trong tủ áo nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Y lén lút lấy chìa khoá tủ áo giấu vào người. Đến khoảng 07 giờ ngày 29/5/2025, Y tiếp tục đến nhà bà C, Y viện cớ nhờ bà C đi mua dùm con vịt để bà C đi khỏi nhà. Khi bà C đi mua vịt thì Y có đi cùng bà C một đoạn, sau đó thì quay lại nhà bà C, lén lút lấy trộm tiền của bà C. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo và bị hại trình bày thống nhất nhau số tiền bị bất trộm, lời trình bày của bị cáo, bị hại là phù hợp với vật chứng bị thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án chứng minh được Lê Thị Hải Y đã lấy trộm số tiền 34.850.000 đồng của bà Lê Thị C.

[3] Đối chiếu hành vi của bị cáo Lê Thị Hải Y thực hiện với quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì hành vi của bị cáo Lê Thị Hải Y đã thoả mãn yếu tố cấu thành tội phạm Trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự nên Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Cần Thơ đã truy tố bị cáo Lê Thị Hải Y với tội danh và điều luật như Cáo trạng là có căn cứ, đúng người đúng tội.

[4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp nên cần có mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên xem xét áp dụng điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.

[6] Xét về nhân thân, bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng. Xét thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân nơi cư trú và gia đình giám sát giáo, dục cũng đủ răn đe đối với bị cáo. Khoan hồng đối với bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo ở bên ngoài chăm sóc con nhỏ, sửa chữa bản thân trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.

[7] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại bà Lê Thị C toàn bộ số tiền bị mất trộm và bị hại không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.

[8] Về án phí: Bị cáo Lê Thị Hải Y phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[2] Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị Hải Y phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

[3] Xử phạt: Bị cáo Lê Thị Hải Y mức án 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành án được tính kể từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự thành phố Cần Thơ nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Lê Thị Hải Y cho Ủy ban nhân dân xã L, thành phố Cần Thơ giám sát, giáo dục.

Gia đình bị cáo Lê Thị Hải Y có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân L, thành phố Cần Thơ trong việc giám sát, giáo dục bị cáo Lê Thị Hải Y trong thời gian chấp hành án.

Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Lê Thị Hải Y, do bị cáo không có việc làm, không có thu nhập ổn định.

Người bị kết án cải tạo không giam giử phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.

[4] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý trả lại vật chứng cho bị hại, bị hại không có yêu cầu gì về phần trách nhệm dân sự nên không xem xét.

[5] Về án phí: Bị cáo Lê Thị Hải Y phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[6] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án ngày 21/11/2025.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Cần Thơ;
  • - VKSND thành phố Cần Thơ;
  • - Phòng HS Công an thành phố Cần Thơ;
  • - VP CQCSĐT Công an thành phố Cần Thơ;
  • - VKSND khu vực 12 - Cần Thơ;
  • - Công an thành phố Cần Thơ;
  • - Phòng THADS khu vực 12 - Cần Thơ;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Diệu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2025/HS-ST ngày 21/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – CẦN THƠ về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 28/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger