Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B

THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2025/HS-ST

Ngày: 26-03-2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B - THÀNH PHỐ H

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị X Quỳnh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Đinh Kim Hoàng
  2. Bà Trần Thị Lan

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân Quận B, Thành phố H.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận B tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đức Bảo - Kiểm sát viên.

Vào ngày 26 tháng 03 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận B, Thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 08/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 37/2025/HSST-QĐ ngày 05 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Thị Thanh X (tên gọi khác: Không); Giới tính: Nữ; Sinh năm 1991 tại tỉnh AG; Nơi đăng ký thường trú: Khóm Thị M, xã HA, huyện CM, tỉnh AG; Nơi cư trú: A2.15.12 Chung cư G, số 346 BVĐ, Phường M, Quận B, TP. H; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị B1. Hoàn cảnh gia đình: Chưa có chồng con; Tiền án, tiền sự: Không.
  2. Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 25 tháng 5 năm 2024 cho đến nay “có mặt”.

  3. Trần Thị Cẩm H (tên gọi khác: K); Giới tính: Nữ; Sinh năm 2000 tỉnh AG; Nơi đăng ký thường trú: Ấp AK, xã ATT, huyện CM, tỉnh AG; Nơi cư trú: 414/22 ĐVB, Phường M2, Quận B, TP. H; Nghề nghiệp: Nhân viên; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Cao Đài; Con ông Trần Văn Đ và bà Phan Thị T1. Hoàn cảnh gia đình: Chưa có chồng con; Tiền án, tiền sự: Không.
  4. Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 25 tháng 5 năm 2024 cho đến nay “có mặt”.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Thanh X, Trần Thị Cẩm H:

Luật sư Huỳnh Phước H2 và Luật sư Nguyễn Thị Mai C – luật sư Công ty Luật TNHH HĐ – Đoàn luật sư TP. H.

Địa chỉ: 324/4/3 LTK, Phường M3, Quận M4, TP. H.

(Ông H2 có mặt, bà C vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và căn cứ diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 21 giờ ngày 22/5/2024, Nguyễn Thị Thanh X và Kng J (Quốc tịch: Singapore, là bạn trai của X) dự tiệc sinh nhật cùng với Nguyễn Diễm T2, Mai Tân H3, Nguyễn Mai Yến N tại quán TG, Quận M4. Do muốn sử dụng ma tuý, X nhắn tin qua ứng dụng "Messenger" rủ Trần Thị Cẩm H đến căn hộ A2.15.12 chung cư G, 346 BVĐ, Phường M, Quận B của X để sử dụng ma tuý. X nhờ H1 đặt mua nửa hộp ma tuý "khay" và 02 viên thuốc lắc, H1 liên hệ người bán ma túy qua ứng dụng Zalo có tên "Eddy" để đặt mua số lượng ma túy như trên, "Eddy" yêu cầu H1 chuyển số tiền 4.400.000 đồng vào số tài khoản 113911799 của Ngân hàng V có chủ tài khoản tên "Nguyen Hoang V1". H1 sử dụng số tài khoản 28413767 Ngân hàng A của H1 để chuyển tiền. "Eddy" hẹn giao ma tuý cho H1 tại trước chung cư G, số 346 BVĐ, Phường M, Quận B. X liên hệ H1 đặt mua ma tuý để sử dụng nhưng không bàn bạc cho nhóm bạn J, T2, H3, N biết. Sau đó, X rủ nhóm bạn trên về căn hộ A2 15.12 chung cư TG để tiếp tục uống rượu bia, J, T2, H3 đồng ý, N thì đi về nhà. Cả nhóm của X thuê xe "grab” ô tô cùng đi qua đón Trần Thị Cẩm H tại khu vực Quận M5 về Chung cư G.

Khoảng 00 giờ ngày 23/5/2024, khi về đến sảnh chung cư, X đưa 5.500.000 đồng cho H1 đề trả tiền mua ma tuý. "Eddy" gọi điện thoại cho H1 thông báo rằng có một người "Grab" (không rõ lai lịch) đến giao ma tuý. X nghe điện thoại của H1 và đi ra nhận ma tuý, X cất giữ ma tuý trong người và dẫn bạn lên căn hộ. Tại đây, tất cả tiếp tục uống rượu, bia đến khoảng 03 giờ 30 phút cùng ngày, H3 đi về. Lúc này, X dùng dao chia 02 viên thuốc lắc thành 04 mảnh (mỗi mảnh là ½ viên), X uống trước 01 mảnh, X để 03 mảnh thuốc lắc còn lại ở kệ bếp, tiếp tục phân chia ma tuý khay thành 02 gói, sau đó X đổ 01 gói ma túy ra dĩa thủy tinh và vứt gói nylon vào thùng rác bếp, gói còn lại X đem vào phòng cất trong túi vải để trên bàn. X chuẩn bị thẻ nhựa để kẻ đường khay ma túy, đồng thời cuộn tròn tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng và mở loa, đèn. Sau đó, cả nhóm X, H1, J và T2 vào phòng ngủ của X để sử dụng ma tuý chung. X sử dụng 03 đường ma tuý khay, J sử dụng 02 đường ma túy khay, T2 sử dụng 04 đường ma tuy khay, H1 sử dụng 05 đường ma tuý khay. Sau khi sử dụng ma túy khay, lần lượt T2, H1, X mỗi người tự lấy uống ½ viên thuốc lắc do X chuẩn bị để uống, riêng J không sử dụng thuốc lắc.

Đến 05 giờ 30 phút cùng ngày, Công an Quận B kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra, phát hiện X, T2, H1, J có biểu hiện nghi vấn sử dụng ma tuý, ngay lúc kiểm tra, X tự nguyện giao nộp ma tuý, dĩa thuỷ tinh, thẻ nhựa; H1 giao nộp số tiền 5.500.000 đồng; riêng đối với ống hút được cuộn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng bị thất lạc. Qua xét nghiệm, Nguyễn Thị Thanh X, Trần Thị Cẩm H, Nguyễn Diễm T2, KNG J dương tính với ma túy Ketamine, MDMA, MA.

Tại Kết luận giám định số 6349/KLGĐ-MT ngày 31/5/2024 tại Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an TP. H kết luận:

  • Gói 1: Bột màu trắng được ký hiệu mẫu m1, cần giám định là ma tuý ở thể rắn, có khối lượng 0,7137 gam, loại Ketamine;
  • Gói 2: Bột màu trắng được ký hiệu mẫu m2 cần giám định không xác định được khối lượng, đều tìm thấy Ketamine ở dạng vết;
  • Gói 3:
    • + Bột màu trắng được ký hiệu mẫu m3 cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0224 gam, loại Ketamine;
    • + Bột màu trắng được ký hiệu mẫu m4, cần giám định không xác định được khối lượng, tìm thấy Ketamine ở dạng vết.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận B: Nguyễn Thị Thanh X và Trần Thị Cẩm H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy như trên.

Quá trình điều tra, X và H1 khai nhận: trước đó vào ngày 21/5/2024, X, H1, J sử dụng ma túy tại căn hộ của X. Ma túy do H1 đặt mua và X là người chuyển khoản trả tiền cho người bán ma túy, số ma túy này X, H1 và Kng J cùng nhau sử dụng hết. Kng J là người được X cung cấp ma túy cho sử dụng, không góp tiền mua ma túy, không tham gia bàn bạc việc sử dụng ma túy với X và H1.

Đối với Nguyễn Diễm T2 và Kng J, là người được X rủ tới căn hộ để uống rượu bia. T2 và Kng J không biết X, H1 đặt mua ma túy, không hùn tiền hay rủ rê người nào khác nên không đồng phạm với X và H1 về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy". Qua xác minh, T2 có thực tế cư trú tại địa phương nên Công an Phường M1, Quận B đã ra Quyết định số 78/QĐ-XPHC ngày 27/5/2024, Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Diễm T2. Đối với Kng J, Công an Thành phố H đã ra quyết định số 5200/QĐ-XPHC ngày 25/6/2024 về việc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi "Sử dụng trái phép chất ma túy" quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP, áp dụng hình thức xử phạt hành chính: "Phạt tiền", hình thức phạt bổ sung: "Trục xuất”.

Đối với Mai Tân H3, Nguyễn Mai Yến N (vợ của H3) là người đi cùng nhóm và đến căn hộ của X. Qua điều tra, H3, N không tham gia bàn bạc việc sử dụng ma túy, không sử dụng ma túy, không hùn tiền mua ma túy nên không có căn cứ xử lý.

Đối với Trần Văn H4 là chủ căn hộ A2.15.12 chung cư G, số 346 BVĐ, Phường M1, Quận B. Qua điều tra, H4 không biết việc X và H1 tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại căn hộ trên vào ngày 21/5/2024 và ngày 23/5/2024 nên không có căn cứ xử lý.

Đối với Nguyễn Thị Thu H5 là người cùng thuê căn hộ A2.15.12 chung cư G, số 346 BVĐ, Phường M1, Quận B. Qua điều tra, ngày 16/5/2024, H5 đã về quê tại VB, NĐ, không biết việc X và H1 tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại căn hộ trên vào ngày 21/5/2024 và ngày 23/5/2024 nên không có căn cứ xử lý.

Đối với đối tượng bán ma túy có tên "Eddy", qua xác minh thông tin tài khoản ngân hàng của "Eddy", xác định chủ tài khoản tên Nguyễn Hoàng V1, sinh năm: 1997, HKTT: 1100 MC, VQ, RG, KG. Qua xác minh tại nơi đăng ký thường trú của V1 không thực tế cư trú và không rõ đi đâu, nên chưa làm việc được. Ngày 30/10/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận B đã ra Quyết định truy tìm số 2389/QĐTT-ĐCSMT đối với Nguyễn Hoàng V1. Công an Quận B tổ chức truy tìm, khi nào phát hiện được sẽ làm rõ xử lý sau.

Đối với đối tượng "Grab” giao ma túy cho X, do không xác định được nhân thân, lai lịch, nên không có cơ sở để xử lý.

Vật chứng của vụ án và vật đang bị tạm giữ:

  • 01 (một) túi vải bên trong có: 01 chai nhựa có chữ Wonder farm, 01 hộp hiệu Charles & Keith chứa 03 bật lửa, 01 ống nỏ, 01 đoạn ống hút (là dụng cụ sử dụng ma túy của X);
  • 01 (một) loa đen hiệu Harman/Kardon, 01 (một) đèn nháy có ký hiệu HSY9A (là dụng cụ của X dùng sử dụng ma túy vào ngày 23/5/2024);
  • 03 (ba) gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Thanh X và hình dấu Công an Phường M1, Quận B bên trong là mẫu vật còn lại sau giám định;
  • 01 (một) túi màu đen.
  • 01 (một) điện thoại di động Samsung màu xanh, đã qua sử dụng;
  • 01 (một) điện thoại di động Iphone màu xanh, đã qua sử dụng (là điện thoại X dùng liên lạc với H1 yêu cầu đặt mua ma túy).
  • 01 (một) rổ màu xanh; 01 (một) túi giấy màu cam.
  • 01 (một) laptop DELL đã qua sử dụng.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max số Imei: 356713111077796, Imei 2: 356713111326151, màu xanh, đã qua sử dụng (là điện thoại H1 liên lạc X trao đổi mua ma túy).

Tại Bản cáo trạng số 26/CT-VKSQ4 ngày 14/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Quận B truy tố Nguyễn Thị Thanh X, Trần Thị Cẩm H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, điểm b Khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội vào ngày 23/5/2024 đúng như cáo trạng mô tả.

Đối với hành vi sử dụng ma túy tại căn hộ ngày 21/5/2024 của Nguyễn Thị Thanh X, Trần Thị Cẩm H khai nhận: Vào ngày 21/5/2024, ma tuý do H1 đặt mua và X là người chuyển khoản trả tiền cho người bán ma tuý, số ma tuý này X, H1 và Kng J cùng nhau sử dụng hết. Kng J là người được X cung cấp ma tuý cho sử dụng, không góp tiền mua ma tuý, không tham gia bàn bạc việc sử dụng ma tuý với X và H1.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận B trình bày lời luận tội:

Bảo lưu quan điểm truy tố các bị cáo theo cáo trạng 26/CT-VKSQ4 ngày 14/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Quận B, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 55, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh X từ 08 (tám) năm tù đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; Đề nghị áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 55, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt Trần Thị Cẩm H mức án từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù đến 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Về xử lý vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của còn lại sau giám định; tịch thu sung quỹ điện thoại di động các bị cáo X, H1 sử dụng làm phương tiện phạm tội; tịch thu tiêu hủy các dụng cụ sử dụng không còn giá trị sử dụng, trả lại các tài sản cho bị cáo X, H1 không liên quan đến vụ án.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Thanh X, Trần Thị Cẩm H tham gia tranh luận: Luật sư không tranh luận về tội danh và điều luật truy tố đối với các bị cáo. Tuy Nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét nhân thân, tính chất mức độ phạm tội và cả hai bị cáo đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn, các bị cáo lần đầu phạm tội để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, để bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận B, Kiểm sát viên:

Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Thị Thanh X và Trần Thị Cẩm H không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

[2]. Về hành vi phạm tội các của bị cáo:

Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Thị Thanh X, Trần Thị Cẩm H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu. Qua lời khai của các bị cáo và kết quả thẩm vấn công khai tại phiên tòa, đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở để kết luận:

Khoảng 05 giờ 30 phút ngày 23/5/2024, Công an Quận B kiểm tra hành chính tại căn hộ A2.15.12 chung cư G, số 346 BVĐ, Phường M1, Quận B, TP. H thì phát hiện Nguyễn Thị Thanh X và Trần Thị Cẩm H đã có hành vi cất giữ 0,7361 gam ma tuý Ketamine và tổ chức cho Kng J, Nguyễn Diễm T2 sử dụng ma tuý cùng các bị cáo X, H1 tại căn hộ trên.

Bị cáo Nguyễn Thị Thanh X đã cung cấp địa điểm thuộc quyền quản lý, sử dụng của mình, cung cấp ma túy để tổ chức cho Trần Thị Cẩm H, Kng J, Nguyễn Thị Diễm T2 sử dụng nên hành vi của bị cáo X đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp “đối với 02 người trở lên”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Bị cáo Trần Thị Cẩm H có hành vi giúp sức cho bị cáo Nguyễn Thị Thanh X mua ma túy để cung cấp cho X, H1, Kng J, Nguyễn Diễm T2 sử dụng nên đồng phạm với bị cáo X về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đối với 0,7361 gam ma tuý Ketamine còn lại Cơ quan Công an Quận B thu giữ do không đủ định lượng (dưới 1,000 gam) để khởi tố xử lý về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận B đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Nguyễn Thị Thanh X và Trần Thị Cẩm H là đúng quy định.

Bên cạnh đó, các bị cáo Nguyễn Thị Thanh X và Trần Thị Cẩm H khai nhận vào ngày 21/5/2025: Nguyễn Thị Thanh X, Trần Thị Cẩm H và Kng J đã sử dụng ma túy tại căn hộ A2.15.12 chung cư G, số 346 BVĐ, Phường M1, Quận B của X. Ma túy là do H1 đặt mua và X là người đã chuyển khoản trả tiền cho người bán ma túy. Số ma túy này bị cáo X, H1 và Kng J đã cùng nhau sử dụng hết. Kgn J là người được X cung cấp ma túy, địa điểm cho sử dụng, không góp tiền mua ma túy, không tham gia bàn bạc, rủ rê việc sử dụng ma túy với X, H1.

Lời khai của các bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ thu thập được. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận B truy tố các bị cáo Nguyễn Thị Thanh X, Trần Thị Cẩm H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b Khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan.

[3]. Đánh giá tính chất, mức độ phạm tội, vai trò của từng bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách Nệm hình sự, nhận thức rõ được tác hại của ma túy nhưng vì mục đích để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy cho bản thân vẫn cố ý phạm tội, hành vi các bị cáo thực hiện đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt các bị cáo mức án nghiêm, cách ly khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo cũng như răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội, góp phần làm giảm tội phạm ma túy đang có chiều hướng gia tăng như hiện nay. Xét, đây là vụ án có đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn. Trong vụ án này, bị cáo X sử dụng căn hộ của bị cáo làm địa điểm tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; bị cáo X là người cung cấp tiền để bị cáo H1 mua ma túy, chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma túy cho cả nhóm sử dụng nên bị cáo có vai trò cao hơn bị cáo H1.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng Điều 50, Điều 58 Bộ luật hình sự, căn cứ vào vai trò, hành vi phạm tội của từng bị cáo để lượng hình đối với các bị cáo đồng phạm.

Về tính chất hành vi phạm tội: các bị cáo phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” nhưng bản thân các bị cáo là người sử dụng ma túy, cùng tự tổ chức sử dụng ma túy để thỏa mãn cơn nghiện chứ không phải tổ chức cho người khác sử dụng ma túy nhằm để hưởng lợi nên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử còn lưu ý tính chất của hành vi này để lượng hình.

[4]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách Nệm hình sự:

[4.1]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách Nệm hình sự.

[4.2]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, các bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Do đó Hội đồng xét xử xét khi lượng hình cần xem xét áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ trách Nệm hình sự cho các bị cáo.

Về nhân thân: Các bị cáo Nguyễn Thị Thanh X và Trần Thị Cẩm H có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu. Bị cáo X, H1 là lao động chính trong gia đình, gia đình các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Bộ luật hình sự.

[5]. Hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo phạm tội không vì mục đích tư lợi nên không cần thiết phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6]. Đối với Nguyễn Diễm T2 và Kng J, là người được X rủ tới căn hộ để uống rượu, bia. T2 và Kng J không biết X, H1 đặt mua ma túy, không hùn tiền hay rủ rê người nào khác nên không đồng phạm với X và H1 về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy". Công an Phường M1, Quận B đã ra Quyết định số 78/QĐ-XPHC ngày 27/5/2024, Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Diễm T2. Đối với Kng J, Công an Thành phố H đã ra quyết định số 5200/QĐ-XPHC ngày 25/6/2024 về việc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi "Sử dụng trái phép chất ma túy" quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP, áp dụng hình thức xử phạt hành chính: "Phạt tiền", hình thức phạt bổ sung: "Trục xuất”.

Đối với Mai Tân H3, Nguyễn Mai Yến N (vợ của H3) là người đi cùng nhóm và đến căn hộ của X. Qua điều tra, H3, N không tham gia bàn bạc việc sử dụng ma túy, không sử dụng ma túy, không hùn tiền mua ma túy nên không có căn cứ xử lý.

Đối với Trần Văn H4 là chủ căn hộ A2.15.12 chung cư G, số 346 BVĐ, Phường M1, Quận B. Qua điều tra, H4 không biết việc X và H1 tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại căn hộ trên vào ngày 21/5/2024 và ngày 23/5/2024 nên không có căn cứ xử lý.

Đối với Nguyễn Thị Thu H5 là người cùng thuê căn hộ A2.15.12 chung cư G, số 346 Bến Vân Vân, Phường M1, Quận B. Qua điều tra, ngày 16/5/2024, H5 đã về quê tại VB, NĐ, không biết việc X và H1 tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại căn hộ trên vào ngày 21/5/2024 và ngày 23/5/2024 nên không có căn cứ xử lý.

Đối với đối tượng bán ma túy có tên "Eddy", qua xác minh thông tin tài khoản ngân hàng của "Eddy", xác định chủ tài khoản tên Nguyễn Hoàng V1, sinh năm: 1997, HKTT: 1100 MC, VQ, RG, KG. Qua xác minh tại nơi đăng ký thường trú của V1 không thực tế cư trú và không rõ đi đâu, nên chưa làm việc được. Ngày 30/10/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận B đã ra Quyết định truy tìm số 2389/QĐTT-ĐCSMT đối với Nguyễn Hoàng V1. Công an Quận B tổ chức truy tìm, khi nào phát hiện được sẽ làm rõ xử lý sau.

Đối với đối tượng "Grab” giao ma túy cho X, do không xác định được nhân thân, lai lịch, nên không có cơ sở để xử lý.

[7]. Về xử lý vật chứng:

  • 01 (một) túi vải bên trong có: 01 chai nhựa có chữ Wonder farm, 01 hộp hiệu Charles & Keith chứa 03 bật lửa, 01 ống nỏ, 01 đoạn ống hút: là dụng cụ sử dụng ma túy của X nên tịch thu tiêu huỷ;
  • 01 (một) loa đen hiệu Harman/Kardon, 01 (một) đèn nháy có ký hiệu HSY9A: là dụng cụ của X dùng để tổ chức sử dụng ma túy vào ngày 23/5/2024 nên tịch thu sung quỹ Nhà nước;
  • 03 (ba) gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Thanh X và hình dấu Công an Phường M1, Quận B bên trong là mẫu vật còn lại sau giám định nên tịch thu tiêu hủy;
  • 01 (một) túi màu đen X sử dụng để đựng ma túy không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ;
  • 01 (một) điện thoại di động Samsung màu xanh, đã qua sử dụng là tài sản của X không liên quan đến vụ án nên trả lại cho Nguyễn Thị Thanh X;
  • 01 (một) điện thoại di động Iphone màu xanh, đã qua sử dụng là điện thoại X dùng liên lạc với H1 yêu cầu đặt mua ma túy nên tịch thu sung Quỹ Nhà nước;
  • 01 (một) rổ màu xanh; 01 (một) túi giấy màu cam là tài sản của X không liên quan đến vụ án nên trả lại cho Nguyễn Thị Thanh X;
  • 01 (một) laptop DELL không mở nguồn đã qua sử dụng là tài sản của X không liên quan đến vụ án nên trả lại cho Nguyễn Thị Thanh X;
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max số Imei: 356713111077796, Imei 2: 356713111326151, màu xanh, đã qua sử dụng là điện thoại H1 liên lạc X trao đổi mua ma túy. Đây là phương tiện dùng để phạm tội nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
  • 11 (mười một) tờ tiền mệnh giá mỗi tờ 500.000 đồng do bị cáo H1 giao nộp. Tại phiên tòa bị cáo H1 khai nhận đây là số tiền mua ma túy X trả lại cho H1. Bị cáo tự nguyện nộp lại nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.

[8]. Về án phí: Các bị cáo pH3 chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 55, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  2. Xử phạt: Nguyễn Thị Thanh X 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày 25 tháng 5 năm 2024.

  3. Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 55, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  4. Xử phạt: Trần Thị Cẩm H 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày 25 tháng 5 năm 2024.

  5. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
    • Tịch thu tiêu hủy 01 (một) túi vải bên trong có: 01 chai nhựa có chữ Wonder farm, 01 hộp hiệu Charles & Keith chứa 03 bật lửa, 01 ống nỏ, 01 đoạn ống hút; 03 (ba) gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Thanh X và hình dấu Công an Phường M1, Quận B bên trong là mẫu vật còn lại sau giám định; 01 (một) túi màu đen X sử dụng để đựng ma túy không có giá trị sử dụng;
    • Tịch thu sung Quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động Iphone màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max số Imei: 356713111077796, Imei 2: 356713111326151, màu xanh, đã qua sử dụng; và số tiền 5.500.000 đồng; 01 (một) loa đen hiệu Harman/Kardon, 01 (một) đèn nháy có ký hiệu HSY9A;
    • Trả lại cho Nguyễn Thị Thanh X 01 (một) rổ màu xanh; 01 (một) túi giấy màu cam; 01 (một) laptop DELL không mở nguồn đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động Samsung màu xanh, đã qua sử dụng là các tài sản của X không liên quan đến vụ án

      (Theo biên bản giao nhận vật chứng số 44/2025 ngày 13 tháng 02 năm 2025 giữa Công an Quận B và Chi cục thi hành án dân sự Quận B và Giấy nộp tiền vào kho bạc nhà nước của Công an Quận B tại Ngân hàng TMCP CT.).

  6. Căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

    Mỗi bị cáo pH3 chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng;

  7. Về quyền kháng cáo:

    Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người pH3 thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; (4)
  • - VKSND TP.HCM (1)
  • - CA TP.HCM (PV 06); (1)
  • - TAND TP.HCM; (1)
  • - Sở Tư pháp TP.HCM; (1)
  • - VKSND Quận B; (1)
  • - Trại TG CA TP.HCM; (1)
  • - Chi cục THADS Quận B; (1)
  • - THAHS Quận B (3)
  • - Lưu VT, hồ sơ. (2)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị X Quỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2025/HS-ST ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B - THÀNH PHỐ H về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 28/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B - THÀNH PHỐ H
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Thanh X và Trần Thị Cẩm H bị Toà án kết án về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger