|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - QUẢNG NINH Bản án số: 28/2025/HS-ST Ngày: 20-8-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Đăng Cường
2. Ông Lê Như Toản
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Sơn Tùng – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuỳ - Kiểm sát viên sơ cấp.
Trong ngày 20 tháng 8 năm 2025 tại Hội trường xét xử số 1, Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Quảng Ninh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/2025/TLST- HS ngày 16 tháng 7 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2025/QĐXXST- HS ngày 01 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Quảng Ninh đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Nguyễn Trung K (tên gọi khác: Không); sinh ngày: 27 tháng 12 năm 1977 tại tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: tổ B, khu E, phường V, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh (nay là phường V, tỉnh Quảng Ninh); nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Trường S, con bà Nguyễn Thị N; có vợ là Nguyễn Thị Đ (đã ly hôn); có 01 con sinh năm 2002; tiền án: ngày 26/8/2014, bị Toà án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương xử phạt 27 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 23/9/2014, bị Toà án nhân dân thị xã Chí Linh, Hải Dương xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 30/9/2014, bị Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, Quảng Ninh xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 11/12/2014, Toà án nhân dân thành phố Hạ Long tổng hợp hình phạt của 03 bản án trên, xử phạt K 06 năm 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. K đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/3/2020. Chưa chấp hành xong phần thi hành án dân sự của các bản án trên; tiền sự: không; nhân thân: ngày 16/9/2002, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/8/2004. Đã chấp hành xong phần thi hành án dân sự; ngày 22/6/2011, Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/7/2013. Đã chấp hành xong phần thi hành án dân sự; bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 20/3/2025 đến ngày 29/3/2025 chuyển sang tạm giam, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; có mặt.
- Họ và tên: Bùi Chí T (tên gọi khác: Không); sinh ngày: 21 tháng 7 năm 1981 tại tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: tổ C, khu T, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh (nay là phường H, tỉnh Quảng Ninh); nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; con ông Bùi Thế H, con bà Nguyễn Thị Thu H1; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 27/12/2005, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 07 năm tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/4/2011, đã chấp hành xong phần thi hành án dân sự; ngày 05/6/2012, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 10 năm tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/11/2020, đã chấp hành xong phần thi hành án dân sự; bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 20/3/2025 đến ngày 29/3/2025 chuyển sang tạm giam, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; có mặt.
- Họ và tên: Nguyễn Văn H2 (tên gọi khác: Không); sinh ngày: 19 tháng 6 năm 1979 tại tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: tổ D, khu D, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh (nay là phường H, tỉnh Quảng Ninh); nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn Đ1, con bà Phạm Thị L; có vợ là Dương Thị L1; có 02 con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: không; bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 20/3/2025 đến ngày 29/3/2025 chuyển sang tạm giam, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; có mặt.
- Bị hại: Công ty TNHH MTV Đ2; địa chỉ: khu đô thị M- C, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh (nay là phường H, tỉnh Quảng Ninh).
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Việt H3 – Chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Cao Văn T1 – Chức vụ: Trưởng phòng kỹ thuật; có mặt.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ngân hàng TMCP P
- Ông Nguyễn Thế M; sinh năm: 1996 – Chức vụ: Trưởng nhóm xử lý nợ; địa chỉ nơi làm việc: Ô số 3, ô số 4 khu nhà ở kết hợp dịch vụ thương mại thấp tầng đường 25 tháng 4, phường H, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
- Ông Nguyễn Tuấn H5; sinh năm: 1996 – Chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ; địa chỉ nơi làm việc: Ô số 3, ô số 4 khu nhà ở kết hợp dịch vụ thương mại thấp tầng đường 25 tháng 4, phường H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
- Anh Nguyễn Trọng H6; sinh năm: 1981; nơi đăng ký thường trú: tổ F, khu F, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh (nay là phường V, tỉnh Quảng Ninh); vắng mặt (có đơn xin xử vắng mặt).
Địa chỉ: Tòa nhà T, số A T, phường A, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trịnh Văn T2 – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Trung H4 – Chức vụ: Giám đốc chi nhánh kiêm giám đốc Trung tâm R- Ngân hàng TMCP P;
Người đại diện theo uỷ quyền lại:
- Những người làm chứng:
- Anh Trần Văn T3; sinh năm: 1983; nơi đăng ký thường trú: tổ A, khu D, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh (nay là phường B, tỉnh Quảng Ninh); vắng mặt.
- Anh Nguyễn Minh H7; sinh năm: 1950; nơi đăng ký thường trú: tổ B, khu T, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh (nay là phường H, tỉnh Quảng Ninh); vắng mặt.
- Anh Nguyễn Văn N1; sinh năm: 1972; nơi đăng ký thường trú: tổ F, khu F, phường G, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh (nay là phường V, tỉnh Quảng Ninh); vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 17/3/2025, khi làm xây dựng tại khu vực gần khu đô thị (KĐT) Nam Ga H thuộc tổ A, khu D, phường H, thành phố H (nay là phường B, tỉnh Quảng Ninh), Nguyễn Trung K thấy dãy nhà 05 tầng thuộc KĐT N có nhiều cửa nhôm kính Xingfa (do Công ty TNHH MTV Đ3 làm chủ đầu tư) nhưng ít người trông coi nên K đã nảy sinh ý định trộm cắp cửa sổ để bán lấy tiền tiêu xài.
Chiều ngày 18/3/2025, K rủ Bùi Chí T và Nguyễn Văn H2 đi trộm cắp cửa sổ . T và H2 đồng ý. K hẹn T và H2 tối cùng ngày quay lại KĐT Nam Ga để thực hiện việc trộm cắp. K đã chuẩn bị: 01 (một) xe ô tô bán tải nhãn hiệu Ford Ranger, màu nâu, BKS 14C-336.16 (Kiên lấy băng dính đen dán số 6 cuối thành số 8 để tránh bị phát hiện); 01 (một) túi vải màu xanh; 01 (một) xà cầy; 02 (hai) tua vít; 01 (một) máy bắn vít; 01 (một) dao dọc giấy. K bỏ những đồ vật trên vào túi vải và điều khiển xe ô tô đi đón T và H2.
Khoảng 20 giờ cùng ngày, K điều khiển xe ô tô trên đón T và H2 đến quán nước đối diện KĐT Nam Ga H để chờ thời cơ thực hiện việc trộm cắp. Đến khoảng 21 giờ, K đi bộ tới gần căn nhà định trộm cắp để xem lối vào thì thấy cửa sổ phía sau nhà mở ra được, có thể đột nhập vào bên trong. Khoảng 30 phút sau K ra quán nước bảo T và H2 là đã tìm thấy lối vào trong. Do biết trong khu đô thị có bảo vệ trông coi nên cả ba tiếp tục ngồi uống nước đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 19/03/2025 thì lên xe ô tô do K điều khiển đi đến một ngõ cách vị trí lấy trộm khoảng 300m. Cả ba đi bộ đến phía sau căn hộ số 1, lô B KĐT N. K mở cửa sổ phía sau nhà rồi trèo vào, tiếp theo đến T và H2. Cả ba lên tầng 05, K sử dụng máy bắn vít và tua vít để tháo các ốc vít các cánh cửa sổ nhôm kính Xingfa. Sau khi tháo ốc xong, K cầm tua vít cùng với H2 (H2 cầm xà cầy, dao dọc giấy và tua vít) tháo keo dính và đưa từng cánh cửa ra khỏi vị trí rồi đặt xuống nền nhà. Thanh bê từng chiếc cửa xuống để ở tầng 01. Cả ba thực hiện việc lấy các ô cửa tương tự tại tầng 04 và tầng 03. Tại tầng 05 tháo được 02 cửa sổ, tầng 04 tháo được 03 cửa sổ, tầng 03 tháo được 04 cửa sổ cùng một loại nhôm kính Xingfa (kích thước khoảng 75x150cm/cửa). Sau khi tập hợp 09 (chín) cửa sổ tại tầng 01, K dùng tua vít điện tháo một phần cánh cửa sổ to tại đây để lấy lối bê số cửa trộm cắp được ra bên ngoài. Khi tháo xong, K đi lấy xe ô tô, T và H2 bê lần lượt 09 bộ cửa số ra để lên thùng xe. Sau đó, T và H2 về nhà, còn K chở số cửa trộm cắp được về cất giấu ở phòng trọ tại tổ D, khu C, phường H, thành phố H (nay là phường H, tỉnh Quảng Ninh).
Sáng ngày 19/3/2025, K bảo T và H2 gửi số tài khoản cho K rồi K chuyển cho mỗi người 2.000.000đ (hai triệu đồng). Đây là tiền công K trả T và H2 khi đi trộm cắp cùng K.
Ngày 20/3/2025, Nguyễn Trung K, Nguyễn Văn H2 và Bùi Chí T đến Cơ quan Công an đầu thú và K tự nguyện giao nộp toàn bộ tang vật liên quan.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 32 ngày 21/3/2025 của Hội đồng định giá tài sản thành phố H kết luận: 09 bộ cửa sổ nhôm kính Xingfa, dày 1,7mm, kính an toàn 2 lớp dày 6,38 ly, kích thước (75x150)cm, lắp mới tháng 8/2022 trị giá 13.892.000đ (mười ba triệu, tám trăm chín mươi hai nghìn đồng) tại thời điểm tháng 3/2025.
Quá trình điều tra, các bị can Nguyễn Trung K, Bùi Chí T, Nguyễn Văn H2 đều khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Về trách nhiệm dân sự và vật chứng của vụ án:
- Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q đã trả lại 09 (chín) bộ cửa sổ nhôm kính X và 52 (năm mươi hai) ốc vít bằng kim loại cho Công ty TNHH MTV Đ2. Công ty TNHH MTV Đ2 không có yêu cầu gì khác.
- Đối với 01 (một) xe ô tô bán tải, nhãn hiệu Ford Ranger, màu nâu, BKS 14C-336.16; 02 (hai) tua vít, 01 (một) máy bắn vít, 01 (một) dao dọc giấy và 01 (một) xà cầy; 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 Promax; 01(một) điện thoại di động Redmi 9A gắn sim số 0866451281; 01 (một) điện thoại di động OPPO A5 2020, gắn sim 0913526678 chuyển đến Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 – Quảng Ninh để xử lý theo quy định.
Với nội dung trên, tại Bản cáo trạng số: 4228/CT- VKDKV1 ngày 15/7/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Trung K về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại điểm g (tình tiết tái phạm nguy hiểm) khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự; bị can Bùi Chí T, Nguyễn Văn H2 về tội: “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Người đại diện theo uỷ quyền của bị hại Công ty TNHH MTV Đ2 không có yêu cầu đề nghị gì.
Người đại diện theo uỷ quyền lại của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP P đề nghị Hội đồng xét xử giao lại chiếc xe ô tô bán tải, nhãn hiệu Ford Ranger, màu nâu, biển kiểm soát 14C – 336.16 cho Ngân hàng TMCP P quản lý; bị cáo K có quan điểm đồng ý với đề nghị của người đại diện theo uỷ quyền lại của Ngân hàng TMCP P.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát đưa ra các tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo, giữ nguyên nội dung truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố các bị cáo Nguyễn Trung K, Bùi Chí T, Nguyễn Văn H2phạm tội: “Trộm cắp tài sản”; đề nghị áp dụng: điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 17; Điều 58; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trung K: từ tháng tù đến tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 20/3/2025; đề nghị áp dụng: khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Chí T: từ tháng tù đến tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 20/3/2025; đề nghị áp dụng: khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 58; điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo : từ tháng tù đến tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 20/3/2025
Về xử lý vật chứng: đề nghị áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu huỷ: 02 (Hai) tua vít (một chiếc dài 23cm, một chiếc dài 25cm) đã qua sử dụng; 01 (Một) máy bắn vít đã qua sử dụng; 01 (Một) dao dọc giấy (bằng kim loại màu trắng, dài khoảng 15cm) đã qua sử dụng; 01 (Một) xà cầy (bằng kim loại dài khoảng 65cm) đã qua sử dụng; Giao cho Ngân hàng TMCP P quản lý: 01 (Một) xe ô tô bán tải, nhãn hiệu Ford Ranger, màu nâu, biển kiểm soát 14C – 336.16; số khung PL2LMFF70MER 15866; không tìm thất số máy nhưng theo kết luận giám định xe của Công an tỉnh Q thì số máy là P4AT4003817) đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng máy; Trả lại cho bị cáo Nguyễn Trung K: 01 (Một) điện thoại nhãn hiệu Iphone (kiểu dáng Iphone 11 Promax), màu vàng, tại thời điểm giao nhận các bên xác nhận là máy không lên nguồn, không xác nhận được số Imei, số thuê bao, điện thoại đã qua sử dụng + kèm 01 sim điên thoại; Trả lại cho bị cáo Bùi Chí T: 01 (Một) điện thoại nhãn hiệu Redmi (kiểu dáng Redmi 9A), màu xanh, tại thời điểm giao nhận các bên xác nhận là máy không lên nguồn, không xác nhận được số Imei, số thuê bao, điện thoại đã qua sử dụng + kèm 01 sim điện thoại; Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H2: 01 (Một) điện thoại nhãn hiệu OPPO (kiểu dáng OPPO A5 2020), tại thời điểm giao nhận các bên xác nhận là máy không lên nguồn, không xác nhận được số Imei, số thuê bao, điện thoại đã qua sử dụng + kèm 01 sim điện thoại.
Lời nói sau cùng: các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình, hòa nhập với cộng đồng và xã hội,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Cơ quan kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Quá trình tiến hành tố tụng không có ai khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng. Chứng cứ, tài liệu do Điều tra viên, Kiểm sát viên thu thập đều hợp pháp và đảm bảo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa Kiểm sát viên đã thực hiện đầy đủ chức trách, nhiệm vụ, các hành vi tố tụng được đảm bảo hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Trung K, Bùi Chí T, Nguyễn Văn H2 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: ngày 19/3/2025, tại căn hộ S, lô B dự án KĐT Nam Ga H thuộc tổ A, khu D, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh (nay là phường B, tỉnh Quảng Ninh) Nguyễn Trung K, Bùi Chí T, Nguyễn Văn H2 có hành vi lợi dụng sơ hở trộm cắp 09 (chín) bộ cửa sổ nhôm kính Xingfa tổng trị giá 13.892.000đ (mười ba triệu, tám trăm chín mươi hai nghìn đồng). Hành vi của bị cáo Nguyễn Trung K đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; hành vi của các bị cáo Bùi Chí T, Nguyễn Văn H2 đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long đã truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.
[3] Về vai trò, nguyên nhân, tính chất mức độ hành vi phạm tội:
Về vai trò: các bị cáo phạm tội có tính chất đồng phạm giản đơn, không có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ cụ thể của từng người, hành vi của các bị cáo không có sự cấu kết chặt chẽ với nhau, trong đó bị cáo Nguyễn Trung K là người khởi xướng, rủ rê lôi kéo các bị cáo Bùi Chí T và Nguyễn Văn H2 cùng thực hiện tội phạm, K cũng là người chuẩn bị công cụ phương tiện phạm tội và trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội nên bị cáo K có vai trò đầu trong vụ án. Các bị cáo T, H2 giữ vai trò ngang nhau và sau vai trò của bị cáo K. Sau khi được K rủ rê lôi kéo, các bị cáo T, H2 đã cùng với K thực hiện hành vi phạm tội, cụ thể: H2 cùng với K cầm xà cầy, dao dọc giấy và tua vít tháo keo dính và đưa từng cánh cửa ra khỏi vị trí rồi đặt xuống nền nhà, Thanh B từng chiếc cửa xuống để ở tầng, T và H2 lần lượt 09 bộ cửa sổ ra để ở thùng xe để K chở về cất giấu.
Về nguyên nhân, tính chất mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội trộm cắp tài sản của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác là khách thể được pháp luật bảo vệ. Nguyên nhân chính là do các bị cáo thiếu tu dưỡng rèn luyện bản thân, coi thường pháp luật, hám lời bằng việc làm bất chính. Do vậy các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
[4] Về nhân thân:
Đối với bị cáo K nhân thân xấu, có 04 tiền án, cụ thể: ngày 26/8/2014, bị Toà án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương xử phạt 27 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 23/9/2014, bị Toà án nhân dân thị xã Chí Linh, Hải Dương xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 30/9/2014, bị Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, Quảng Ninh xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 11/12/2014, Toà án nhân dân thành phố Hạ Long tổng hợp hình phạt của 03 bản án trên, xử phạt K 06 năm 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. K đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/3/2020. Chưa chấp hành xong phần thi hành án dân sự của các bản án trên. Ngoài ra vào ngày 16/9/2002, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/8/2004, đã chấp hành xong phần thi hành án dân sự; ngày 22/6/2011, Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/7/2013, đã chấp hành xong phần thi hành án dân sự;
Đối với bị cáo Bùi Chí T4: ngày 27/12/2005, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 07 năm tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/4/2011, đã chấp hành xong phần thi hành án dân sự; ngày 05/6/2012, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 10 năm tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/11/2020, đã chấp hành xong phần thi hành án dân sự;
Đối với bị cáo Nguyễn Văn H2 có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, lần đầu phạm tội.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều ra đầu thú, thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Bị cáo K sau khi phạm tội đã tự nguyện giao nộp toàn bộ số tài sản trộm cắp được nên bị cáo K được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ “Khắc phục hậu quả” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Văn H2 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Đối với tình tiết “Tái phạm nguy hiểm” đã dùng để áp dụng làm tình tiết định khung tăng nặng theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự đố với bị cáo K nên không tiếp tụng áp dụng làm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo K.
[7] Về hình phạt chính: căn cứ vào vai trò, tính chất và mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử nhận thấy cần phải áp dụng mức hình phạt tù, cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[8] Về trách nhiệm dân sự:
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q đã trả lại 09 (chín) bộ cửa sổ nhôm kính X và 52 (năm mươi hai) ốc vít bằng kim loại cho Công ty TNHH MTV Đ2. Công ty TNHH MTV Đ2 không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[9] Về xử lý vật chứng, tài sản:
- Đối với: 02 (Hai) tua vít (một chiếc dài 23cm, một chiếc dài 25cm) đã qua sử dụng; 01 (Một) máy bắn vít đã qua sử dụng; 01 (Một) dao dọc giấy (bằng kim loại màu trắng, dài khoảng 15cm) đã qua sử dụng; 01 (Một) xà cầy (bằng kim loại dài khoảng 65cm) đã qua sử dụng đều là công cụ phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với: 01 (Một) xe ô tô bán tải, nhãn hiệu Ford Ranger, màu nâu, biển kiểm soát 14C – 336.16; số khung PL2LMFF70MER 15866; không tìm thất số máy nhưng theo kết luận giám định xe của Công an tỉnh Q thì số máy là P4AT4003817) đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng máy là của bị cáo Nguyễn Trung K, bị cáo dùng để làm phương tiện phạm tội, lẽ ra phải tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước, tuy nhiên chiếc xe ô tô bán tải này bị cáo K đang dùng để thế chấp theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số: 0002/2022/BĐ ngày 04/01/2022 giữa bên thế chấp là Nguyễn Trung K và bên nhận thế chấp là Ngân hàng TMCP P – Phòng G để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng số: 0002/2022/HĐTD/OCB- CN ngày 04/01/2022 và các Hợp đồng tín dụng khác giữa bên thế chấp với Ngân hàng TMCP P; Ngân hàng TMCP P không có lỗi dẫn đến việc bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội nên Hội đồng xét xử nhận thấy cần giao lại cho Ngân hàng TMCP P quản lý nhằm đảm bảo quyền lợi của Ngân hàng TMCP P và phù hợp với nguyện vọng của bị cáo.
- Đối với 01 (Một) điện thoại nhãn hiệu Iphone (kiểu dáng Iphone 11 Promax), màu vàng + kèm 01 sim điên thoại thu giữ của bị cáo Nguyễn Trung K; 01 (Một) điện thoại nhãn hiệu Redmi (kiểu dáng Redmi 9A), màu xanh + kèm 01 sim điện thoại thu giữ của bị cáo Bùi Chí T; 01 (Một) điện thoại nhãn hiệu OPPO (kiểu dáng OPPO A5 2020) + kèm 01 sim điện thoại thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn H2. Các bị cáo không dùng để liên lạc khi phạm tội nên cần trả lại cho các bị cáo.
[10] Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dung, mức hình phạt đối với các bị cáo là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào: điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 17; Điều 58; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự,
- Về tội danh: tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung K phạm tội: “Trộm cắp tài sản”
- Về hình phạt: xử phạt bị cáo Nguyễn Trung K: 30 (Ba mươi) tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 20/3/2025.
- Căn cứ vào: khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự,
- Về tội danh: tuyên bố bị cáo Bùi Chí T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”
- Về hình phạt: xử phạt bị cáo Bùi Chí T: 09 (Chín) tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 20/3/2025.
- Căn cứ vào: khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 58; điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự,
- Về tội danh: tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H2 phạm tội: “Trộm cắp tài sản"
- Về hình phạt: xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H2: 06 (Sáu) tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 20/3/2025.
- Về xử lý vật chứng:
- Về án phí: Căn cứ vào: khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a,c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Trung K, Bùi Chí T, Nguyễn Văn H2, mỗi người phải chịu: 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào: Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.
Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ: 02 (Hai) tua vít (một chiếc dài 23cm, một chiếc dài 25cm) đã qua sử dụng; 01 (Một) máy bắn vít đã qua sử dụng; 01 (Một) dao dọc giấy (bằng kim loại màu trắng, dài khoảng 15cm) đã qua sử dụng; 01 (Một) xà cầy (bằng kim loại dài khoảng 65cm) đã qua sử dụng;
Giao cho Ngân hàng TMCP P quản lý: 01 (Một) xe ô tô bán tải, nhãn hiệu Ford Ranger, màu nâu, biển kiểm soát 14C – 336.16; số khung PL2LMFF70MER 15866; không tìm thất số máy nhưng theo kết luận giám định xe của Công an tỉnh Q thì số máy là P4AT4003817) đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng máy;
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Trung K: 01 (Một) điện thoại nhãn hiệu Iphone (kiểu dáng Iphone 11 Promax), màu vàng, tại thời điểm giao nhận các bên xác nhận là máy không lên nguồn, không xác nhận được số Imei, số thuê bao, điện thoại đã qua sử dụng + kèm 01 sim điên thoại;
Trả lại cho bị cáo Bùi Chí T: 01 (Một) điện thoại nhãn hiệu Redmi (kiểu dáng Redmi 9A), màu xanh, tại thời điểm giao nhận các bên xác nhận là máy không lên nguồn, không xác nhận được số Imei, số thuê bao, điện thoại đã qua sử dụng + kèm 01 sim điện thoại;
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H2:01 (Một) điện thoại nhãn hiệu OPPO (kiểu dáng OPPO A5 2020), tại thời điểm giao nhận các bên xác nhận là máy không lên nguồn, không xác nhận được số Imei, số thuê bao, điện thoại đã qua sử dụng + kèm 01 sim điện thoại.
(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số: 09/BB- THA/KV1 ngày 16/7/2025 tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 1 – Quảng Ninh).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Mạnh Hùng |
Bản án số 28/2025/HS-ST ngày 20/08/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - QUẢNG NINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 28/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử phạt bị cáo Nguyễn Trung Kiên: 30 (Ba mươi) tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 20/3/2025. 2. Căn cứ vào: khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, 2.1. Về tội danh: tuyên bố bị cáo Bùi Chí Thanh phạm tội: “Trộm cắp tài sản” 2.2. Về hình phạt: xử phạt bị cáo Bùi Chí Thanh: 09 (Chín) tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 20/3/2025. 3. Căn cứ vào: khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 58; điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, 3.1. Về tội danh: tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Hải phạm tội: “Trộm cắp tài sản” 3.2. Về hình phạt: xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Hải: 06 (Sáu) tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 20/3/2025
