Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 6- THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 28/2025/HS- ST

Ngày 18 - 11 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Tống Thị Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Hồ Điền; ông Trịnh Đình Hồng

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Ngân, là Thư ký Tòa án nhân dân (viết tắt: TAND) khu vực 6- Thanh Hóa

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (viết tắt: VKSND) khu vực 6- Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Doãn Thị Luyến - Kiểm sát viên

Ngày 18 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở TAND khu vực 6 - Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2025/TLST- HS ngày 17 tháng 10 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2025/ QĐXXST- HS ngày 04/11/2025 đối với bị cáo:

CAO VĂN Đ

Sinh ngày: 08/9/1991, tại tỉnh Nam Định (nay là tỉnh Ninh Bình); CCCD số: [...]; Cư trú tại: Xóm B, xã X, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Cao Văn T; Con bà: Nguyễn Thị H (đã chết); Vợ: Trần Thị Ánh T1 (đã ly hôn); Con: có 01 con sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 14/6/2025 đến ngày 04/9/2025 thay thế biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp bảo lĩnh (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo Cao Văn Đ: Bà Hoàng Thị T2 - Trợ giúp viên pháp lý (TGVPL) thuộc trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T.

Địa chỉ: Số C Đại Lộ L, phường H, tỉnh Thanh Hóa (có mặt)

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Bùi Xuân C, sinh năm 1986
  2. Công tác tại: Tổ công tác số 3, Đội cảnh sát giao thông đường bộ cao tốc số C1

    Nơi ở: Số A, ngõ E P, phường P, TP. (vắng mặt)

  3. Anh Ngô Văn D, sinh năm 1991
  4. Cư trú tại: Thôn G, xã Q, TP . (vắng mặt)

* Những người làm chứng:

  1. Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1989 (vắng mặt)
  2. Anh Trịnh Khải H1, sinh năm 1986 (vắng mặt)
  3. Ông Cao Văn T, sinh năm 1958 (vắng mặt)
  4. Anh Cao Văn T3, sinh năm 1986 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thực hiện kế hoạch số 252/KH-C08-P6 ngày 14/01/2025, của Cục C2 về việc bố trí lục lượng tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm bảo đám trật tự, an toàn giao thông trên tuyến cao tốc P - C - M - Quốc lộ D. Ngày 15/04/2025, tổ công tác số 3 thuộc Đội Cảnh sát giao thông đường bộ cao tốc số C1 (Cục C2) thực hiện nhiệm vụ tuần tra kiểm soát, xử lý vi phạm đảm bảo trật tự, an toàn giao thông thời gian từ 06 giờ 00 phút đến 18 giờ 00 phút trên tuyến từ Km274+400 đến Km351+300 và ngược lại thuộc đường C - Quốc lộ D.

Khoảng 16 giờ 45 phút ngày 15/04/2025, đồng chí Bùi Xuân C (tổ viên, lực lượng CSGT) điều khiển xe chuyên dụng mang BKS 80A- 042.18 chở theo đồng chí Nguyễn Văn L (tổ viên, lực lượng CSCĐ) tuần tra lưu động trên tuyến cao tốc đoạn M- Quốc lộ D hướng T đi Hà Nội. Khi đi đến Km301+300 thuộc địa phận thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, phát hiện xe ô tô BKS 29G-025.04 do Cao Văn Đ, sinh năm: 1991 trú Xóm F, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định dừng, dỗ không đúng quy định trên đường cao tốc. Thực hiện việc tuần tra lưu động theo kế hoạch được quyền kiểm soát, xử lý vi phạm khi phát hiện phương tiện giao thông dừng, đỗ không đúng quy định trên đường cao tốc đồng chí C tiến hành kiểm tra hành chính đối với lỗi vi phạm của Đ, nhưng Đ không chấp hành mà nhanh chóng lên xe ô tô để bỏ đi. Đồng chí C đứng trước đầu xe ô tô BKS 29G-025.04 liên tục ra hiệu lệnh bằng lời nói yêu cầu Đ xuống xe, nhưng Đ đã tăng ga điều khiển xe ô tô lao thẳng về phía trước làm đầu xe ô tô đẩy về phía đồng chí C lùi lại phía sau. Do Đ quyết liệt không dừng lại nên đồng chí C phải tránh để đảm bảo an toàn và thông báo đến các thành viên tổ số 3 đến hỗ trợ. Khi đi đến KM 297 + 500 tổ công tác số 3 đã dừng được xe ô tô BKS 29G-025.04 do Đ điều khiển và đưa về trụ sở Công an thị trấn H (nay là Công an xã T, tỉnh Thanh Hóa) để lập biên bản vi phạm.

Biên bản xem xét dấu vế trên thân thể đồng chí Bùi Xuân C hồi 14 giờ 35, ngày 08/5/2025 tại trụ sở CQCSĐT Công an tỉnh T không phát hiện thương tích trên thân thể anh Bùi Xuân C. BL 245

* Kết quả khám nghiệm hiện trường:

Hiện trường nơi xảy ra vụ việc được xác định tại Km301+300 đường C- Quốc lộ D thuộc địa phận thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa (nay là thôn Đ, xã T, tỉnh Thanh Hóa). Phía dưới vị trí này có cống chui qua cao tốc nối giữa các khu dân cư thôn Đ. Chiều đường từ Thanh Hoá đi Hà Nội hướng Bắc- Nam có 03 làn xe cơ giới và 01 làn đường dừng khẩn cấp rộng 3m, lề đường bê tông rộng 0,7m. Phía trên cống chui có bờ cống dài 13m, cao 1,3m, rộng 0,5m được nối giữa rào chắn kim loại cao 0,75m chạy dọc theo lề đường bê tông.

* Kết quả giám định kỹ thuật số điện tử:

Tại kết luận giám định số:1815/KL-KTHS ngày 29/5/2025 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:

- Không phát hiện dấu vết chỉnh sử, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 05 (năm) tệp video của 01 (một) USB gửi giám định.

- Hành động, đặc điểm của người, phương tiện trong 02 (hai) tệp video “TC_00695.MOV” và “TC_000696.MOV” gửi giám định được thể hiện trong 08 (tám) ảnh - Thể hiện trong Phụ lục. Ghi nhận: Đồng chí Bùi Xuân C mặc trang phục lực lượng Cảnh sát giao thông (có áo phản quang) phát hiện anh Cao Văn Đ, sinh năm: 1992 trú xóm F, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định (nay là Xóm B, xã X, tỉnh Ninh Bình) dừng, đỗ xe ô tô BKS 29G- 025.04 tại làn dừng xe khẩn cấp thuộc đường C thuộc địa phận xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa (nay là xã T, tỉnh Thanh Hóa). Đồng chí Bùi Xuân C đứng trước đầu xe ô tô BKS 29G- 025.04 ra hiệu lệnh nhưng Cao Văn Đ điều khiển xe tiến về phía trước, đẩy đồng chí Bùi Xuân C rồi bỏ chạy.

* Kết quả giám định pháp y tâm thần:

- Tại văn bản ghi nhận quá trình giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 38/KLGĐ ngày 28/08/2025 của Phân viện Pháp y tâm thần B, kết luận:

- Trước và trong khi thực hiện hành vi phạm tội (ngày 15/4/2025) và thời điểm giám định, bị can Cao Văn Đ bị bệnh Các rối loạn khi sắc (cảm xúc) thực tổn; theo Phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 (ICD 10), có mã bệnh là: F06.3.

- Tại các thời điểm nêu trên, bị can Cao Văn Đ đủ khả năng nhận thức nhưng hạn chế khả năng điều khiển hành vi.

* Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T đã thu giữ và xử lý vâth chứng:

  • - 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu ISUZU màu xanh mang BKS 29G-025.04, số máy: 2A2608, số khung RLE1KR55HF7101064, đã qua sử dụng;
  • - 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 29 001614, cấp ngày: 31/01/2024.
  • - 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định số: EC 0129983, cấp ngày: 25/02/2025.
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme 7 màu xanh, màn hình bị nứt, số IMEI1: 862949052975153, số IMEI2: 862949052975146, có 01 (một) sim, máy đã qua sử dụng.
  • - 01 (một) giấy phép lái xe hạng C số [...] mang tên Cao Văn Đ.
  • - 01 (một) USB nhãn hiệu kingston. Đã được niêm phong có dấu tròn đỏ của Phòng K - Công an tỉnh T.

Quá trình điều tra nhận định: Đối với xe ô tô nhãn hiệu ISUZU màu xanh mang BKS 29G-025.04 và giấy tờ có liên quan qua điều tra xác minh chủ sở hữu hợp pháp là anh Ngô Văn D và điện thoại di động nhãn hiệu Realme 7 màu xanh, màn hình bị nứt, số IMEI1: 862949052975153, số IMEI2: 86294905297514 6, có 01 sim, máy đã qua sử dụng chủ sở hữu là Cao Văn Đ, xét thấy không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nêu trên, Cơ quan CSĐT đã trả lại phương tiện, giấy tờ liên quan và điện thoại di động cho chủ sở hữu quản lý, sử dụng.

Đối với giấy phép lái xe mô tô hạng C mang tên Cao Văn Đ, 01 USB bên trong lưu dữ liệu liên quan đến vụ án được chuyển theo hồ sơ.

* Trách nhiệm dân sự: Anh Bùi Xuân C không có yêu cầu gì về bồi thường thiệt hại. Đối với xe ô tô 29G-025.04 không bị hư hỏng và phía chủ sở hữu hợp pháp là anh D không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không xem xét.

Bị cáo Cao Văn Đ phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã thành khẩn, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của Đ phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án

* Tại bản cáo trạng số: 07/CT-VKSKV6 ngày 16 tháng 10 năm 2025 của Viện trưởng VKSND khu vực 6- Thanh Hoá truy tố bị cáo Cao Văn Đ về tội "Chống người thi hành công vụ" theo quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự (viết tắt: BLHS);

Đại diện VKSND khu vực 6- Thanh Hoá luận tội đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử (viết tắt: HĐXX) áp dụng khoản 1 Điều 330, điểm i, q, s khoản 1,2 Điều 51, Điều 36 BLHS, tuyên phạt bị cáo Cao Văn Đ từ 30 tháng đến 36 tháng cải tạo không giam giữ về tội "Chống người thi hành công vụ". Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo vì bị cáo là người hạn chế khả năng điều khiển hành vi, bản thân đang hưởng bảo trợ xã hội và không có thu nhập.

* Về trách nhiệm dân sự: Anh Bùi Xuân C không có yêu cầu gì về bồi thường thiệt hại. Đối với xe ô tô 29G-025.04 không bị hư hỏng và phía chủ sở hữu hợp pháp không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên đề nghị miễn xét.

* Về vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự (viết tắt: BLTTHS) đề nghị trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng C, số [...] mang tên Cao Văn Đ.

* Án phí hình sự sơ thẩm: Đề nghị miễn án phí HSST cho bị cáo vì là người hạn chế khả năng điều khiển hành vi.

* Trợ giúp viên pháp lý Hoàng Thị T2 bào chữa miễn phí cho bị cáo Cao Văn Đ thống nhất với tội danh và hành vi phạm tội mà VKS đã truy tố bị cáo. Tuy nhiên, TGVPL đề nghị HĐXX xem xét đến tính chất, mức độ hành vi phạm tội, những tình tiết giảm nhẹ khi lượng hình cho bị cáo:

Thứ nhất: Đây là vụ án hình sự “chống người thi hành công vụ” bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên đề nghị HĐXX áp dụng điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS đối với bị cáo.

Thứ hai: Trong quá trình điều tra, truy tố, và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhận thức sâu sắc về hành vi sai trái của mình và mong được sự khoan hồng của pháp luật. Việc bị cáo thành khẩn khai báo đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS) được quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 BLHS. Đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

- Bị cáo Cao Văn Đ là người hạn chế khả năng điều khiển hành vi. Cũng ví lý do này, bị cáo có sự nhạy cảm hơn, dễ bị kích động hơn so với người bình thường, và đây cũng là là tình tiết giảm nhẹ TNHS được quy định tại điểm q khoản 1 Điều 51 BLHS bị cáo cho đến thời điểm thực hiện hành vi Chống người thi hành công vụ là người chưa có tiền án tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng.

Bị cáo bị khuyết tật từ nhỏ, đang hưởng trợ cấp hàng tháng, hoàn cảnh gia đình khó khăn, vợ đã ly hôn, bản thân chấp hành đường lối chính sách pháp luật của Nhà nước và quy định của địa phương. Vì vậy đề nghị HĐXX áp dụng khoản 2 Điều 51 BLHS đối với bị cáo.

Từ những vấn đề đã nêu, TGVPL đề nghị HĐXX xem xét áp dụng khoản 1 Điều 330, điểm i, s, q khoản 1, khoản 2 điều 51, Điều 36 BLHS tuyên phạt bị cáo Cao Văn Đ mức án thấp hơn VKS đề nghị và đề nghị trả lại cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe mang tên Cao Văn Đ.

Về án phí, kính đề nghị HĐXX xem xét miễn án phí HSST đối với bị cáo.

Bị cáo nhất trí với bản bào chữa của TGVPL, bị cáo không bổ sung gì.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin được sự khoan hồng của pháp luật để bị cáo cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.

Căn cứ vào chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét khách quan toàn diện chứng cứ, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên; VKSND khu vực 6- Thanh Hoá, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng của BLTTHS. Quá trình điều tra bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về việc vắng mặt những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng. Bị cáo, và đại diện VKS không đề nghị HĐXX hoãn phiên tòa. Hồ sơ vụ án thể hiện lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng trong quá trình điều tra đã đầy đủ, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, căn cứ Điều 292 và 293 BLTTHS, HĐXX vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Về nội dung vụ án: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng, vật chứng, thời gian, địa điểm thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra cùng các tang vật thu giữ và các tài liệu chứng cứ kèm theo đúng quy định của pháp luật, nên HĐXX có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 16 giờ 45 phút, ngày 15/4/2025, anh Bùi Xuân C thuộc tổ công tác số 3, Đội Cảnh sát giao thông đường bộ cao tốc số C1 (Cục C2) thực hiện nhiệm vụ tuần tra kiểm soát, xử lý vi phạm đảm bảo trật tự, an toàn giao thông theo hiện kế hoạch số 252/KH-C08-P6 ngày 14/01/2025, của Cục C2 tại Km301+300 đường C- Quốc lộ D thuộc địa phận thôn Đ, xã T, tỉnh Thanh Hóa phát hiện Cao Văn Đ điều khiển xe ô tô BKS 29G-025.04 dừng, đỗ tại nơi cấm dừng đỗ đã vi phạm quy định về giao thông đường bộ nên anh C yêu cầu kiểm tra nhưng Đ không chấp hành mà nhanh chóng lên xe ô tô để bỏ đi. Khi anh C đứng trước đầu xe ô tô BKS 29G-025.04 liên tục ra hiệu lệnh bằng lời nói yêu cầu Đ xuống xe thì Đ đã tăng ga điều khiển xe ô tô cố tình lao ép về phía anh C để bỏ chạy.

Hành vi của bị cáo Cao Văn Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội "Chống người thi hành công vụ" tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 330 BLHS.

[4] Xét tính chất vụ án: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh, quy tắc sống của xã hội, làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của mọi người nơi công cộng, gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo bằng mức án tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS:

- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng TNHS

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng điều khiển hành vi của mình, bị cáo được chính quyền địa phương xác nhận bản thân bị cáo chấp hành đường lối chính sách pháp luật của Nhà nước và quy định của địa phương nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm điểm i, q, s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS.

Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ TNHS, đặc điểm nhân thân của bị cáo như đã phân tích ở trên. HĐXX thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cần áp dụng Điều 36 BLHS, xử phạt bị cáo mức phạt cải tạo không giam giữ như đề nghị của đại diện VKS tại phiên toà cũng đủ tác dụng giáo bị cáo và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[6] Xét về miễn việc khấu trừ thu nhập đối với bị cáo: HĐXX thấy bị cáo là người bị hạn chế khả năng nhận thức điều khiển hành vi và không có thu nhập, hiện nay bị cáo đang hưởng bảo trợ xã hội nên miễn việc khấu trừ thu nhập cho bị cáo là phù hợp.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Anh Bùi Xuân C không có yêu cầu gì về bồi thường thiệt hại. Đối với xe ô tô 29G-025.04 không bị hư hỏng và phía chủ sở hữu hợp pháp anh Ngô Văn D không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên HĐXX miễn xét.

[8] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe số [...] mang tên Cao Văn Đ.

[9] Án phí HSST: Bị cáo Cao Văn Đ có đơn đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm vì là người bị hạn chế khả năng điều khiển hành vi. Vì vậy miễn án phí HSST cho bị cáo;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ:

  • - Khoản 1 Điều 330, điểm i, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự;
  • - Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự
  • - Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban thường vụ Quốc hội;

2. Tuyên bố: Bị cáo Cao Văn Đ phạm tội " Chống người thi hành công vụ"

3. Xử phạt: Cao Văn Đ 30 (ba mươi) tháng cải tạo không giam giữ được trừ đi 83 ngày (từ 14/6/2025 đến ngày 04/9/2025) bằng 249 ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ còn phải chấp hành là 27 tháng 07 ngày.

Thời điểm chấp hành hình phạt tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự tỉnh Thanh Hoá nhận được bản sao bản án và quyết định thi hành án hình phạt.

Giao bị cáo Cao Văn Đ cho Ủy Ban nhân dân xã X, tỉnh Ninh Bình giám sát giáo dục, gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo.

Miễn việc khấu trừ thu nhập cho bị cáo Cao Văn Đ.

4. Xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo Cao Văn Đ 01 giấy phép lái xe giấy phép lái xe hạng C, số [...] cấp ngày 31/10/2022 mang tên Cao Văn Đ (trả lại tại Tòa án).

5. Án phí hình sự sơ thẩm: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Cao Văn Đ.

6. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, trợ giúp viên pháp lý bà Hoàng Thị T2, vắng mặt những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Bùi Xuân C, anh Ngô Văn D.

Bị cáo, người bào chữa có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (18/11/2025). Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án phần liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc Toà án niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - VKSND khu vực 6;
  • - VKS nhân dân tỉnh Thanh Hóa;
  • - CQĐT công an tỉnh Thanh Hoá;
  • - CQ THAHS Công an tỉnh thanh Hoá;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá;
  • - THA Dân sự tỉnh Thanh Hoá;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

TỐNG THỊ HÀ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2025/HS- ST ngày 18/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - THANH HOÁ về chống người thi hành công vụ

  • Số bản án: 28/2025/HS- ST
  • Quan hệ pháp luật: Chống người thi hành công vụ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Căn cứ: - Khoản 1 Điều 330, điểm i, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự; - Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự - Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban thường vụ Quốc hội; 2. Tuyên bố: Bị cáo Cao Văn Đ phạm tội " Chống người thi hành công vụ"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger