Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẢO LỘC

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2025/HS-ST

Ngày: 18-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ BẢO LỘC - TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ninh Khắc Phong.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Khắc Quế.

Bà Nguyễn Thị Hạnh.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Thanh - Là thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thông - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 24/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Thị Trúc L, tên gọi khác: Không, sinh ngày: 15/7/1994 tại An Giang; hộ khẩu thường trú: Thôn A, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; nơi ở hiện tại: Hẻm F Đ, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 01/12; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thanh D, sinh năm 1970 và con bà Nguyễn Thị D1, sinh năm 1971; hiện cư trú tại xã L, huyện C, tỉnh An Giang; chồng: Chưa có; con: Có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 13/4/2016 bị Công an phường A, thành phố B xử phạt hành chính 1.500.000đ về hành vi “Đánh bạc trái phép”, nộp phạt ngày 18/4/2016.

Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

Bị hại: Chị Đoàn Thị Tú O, sinh năm: 1987; nơi cư trú: Số H T, phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 08/12/2024, Trần Thị Trúc L điều khiển xe mô tô đến cửa hàng Chuyển tiền nhanh và bán sim điện thoại của chị Đoàn Thị Tú O, địa chỉ: Số nhà H T, phường B, thành phố B để chuyển số tiền 1.500.000đ vào tài khoản ngân hàng của L. Sau khi chuyển tiền xong thì L điều khiển xe đi tìm quán để hớt tóc nhưng không thấy nên L quay lại cửa hàng của chị O để mua sim điện thoại. Khi đến nơi, L gặp chị O và hỏi mua một sim điện thoại thì chị O nói L đưa Căn cước công dân của L để làm sim chính chủ. Do Ly bị rơi mất Căn cước công dân nên chị O không bán sim cho L được. Lúc này, L phát hiện một túi xách màu xanh đang để trên ghế ở khu vực quầy tính tiền nên nảy sinh ý định trộm cắp. Để thực hiện ý định trên, L đến gần vị trí túi xách, lợi dụng lúc chị O không để ý L lấy túi xách trên cất giấu vào bên trong túi xách mà L đang đeo trên người rồi đi về nhà của L. Khi về đến nhà L kiểm tra túi xách trộm cắp của chị O thì thấy có nhiều tờ tiền gồm các mệnh giá khác nhau, L kiểm đếm được tổng số tiền là 39.990.000đ, ngoài ra còn có một giấy chứng minh nhân dân và một căn cước công dân. Sau đó, L cầm túi xách, chứng minh và căn cước công dân đến cổng nghĩa trang công giáo ở phía sau nhà thờ B, thuộc phường B, thành phố B vứt bỏ, còn số tiền trên L sử dụng vào mục đích khám chữa bệnh cho con và tiêu xài cá nhân hết.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 03/KL-HĐĐGTS ngày 06/01/2025 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 01 túi xách màu xanh, loại túi xách nữ, bằng vải có giá trị là 32.000đ.

Về tang vật: Sau khi trộm cắp số tiền 39.990.000₫ của chị O thì L đã tiêu xài cá nhân hết; đối với túi xách, Chứng minh nhân dân và Căn cước công dân của chị O thì L vứt bỏ ở phía sau Nhà thờ B, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo đã bồi thường cho bị hại là chị Đoàn Thị Tú O số tiền 40.000.000đ. Chị O không yêu cầu bồi thường gì thêm về phần dân sự và viết đơn bãi nại cho bị cáo.

Cáo trạng số: 42/CT-VKSBL ngày 17/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng truy tố Trần Thị Trúc L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Thị Trúc L phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã được bị cáo bồi thường toàn bộ thiệt hại, hiện không có yêu cầu gì thêm nên không đề cập đến.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B (nay là Công an tỉnh L), Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận:

Vào ngày 08/12/2024, tại cửa hàng C và bán sim điện thoại của chị Đoàn Thị Tú O, địa chỉ: Số nhà H T, phường B, thành phố B, Trần Thị Trúc L đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là số tiền mặt trị giá 39.990.000₫ và 01 túi xách trị giá 32.000₫ của chị Đoàn Thị Tú O. Tổng trị giá tài sản L chiếm đoạt là 40.022.000₫ (Bốn mươi triệu không trăm hai mươi hai nghìn đồng). Trong khi bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý, nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm nhưng vẫn thực hiện, mục đích để lấy tiền chữa bệnh cho con và tiêu xài cá nhân.

Vì vậy, hành vi nêu trên của bị cáo Trần Thị Trúc L đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

  • - Nhân nhân: Bị cáo có nhân thân xấu.
  • - Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
  • - Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, đã bồi thường toàn bộ thiệt hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt chính: Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng nhưng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương nên cần có mức án tương xứng với hành vi của bị cáo. Mặc dù, ngày 13/4/2016, bị cáo bị Công an phường A, thành phố B xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc trái phép 1.500.000đ nhưng kể từ ngày bị cáo chấp hành xong (nộp phạt ngày 18/4/2016) tính đến ngày phạm tội lần này đã quá thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Mặt khác, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, không có chồng nhưng đang phải nuôi 03 con nhỏ, trong đó có cháu dưới 36 tháng tuổi. Vì vậy, thấy không cần thiết bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù giam mà cho bị cáo được hưởng án treo, chịu sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú, cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa chung.

Việc cho bị cáo hưởng án treo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, phù hợp với quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự và hướng dẫn tại Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018; Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không thu hồi được vật chứng của vụ án nên không xem xét đến.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Đoàn Thị Tú O đã được bị cáo bồi thường toàn bộ thiệt hại (40.000.000đ), hiện không có yêu cầu gì thêm về dân sự nên không đề cập đến.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Trần Thị Trúc L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Trần Thị Trúc L 15 (Mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án.

    Giao bị cáo Trần Thị Trúc L cho Ủy ban nhân dân xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thi hành án thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

  2. Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Trần Thị Trúc L phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm; bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án ND tỉnh Lâm Đồng (2);
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng (1);
  • - VKSND TP. Bảo Lộc (1);
  • - Sở tư pháp tỉnh Lâm Đồng (1);
  • - Công an tỉnh Lâm Đồng (1);
  • - Chi cục THA dân sự TP. Bảo Lộc (1);
  • - Bị cáo (1);
  • - Bị hại (1);
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Ninh Khắc Phong

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2025/HS-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 28/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Trúc L phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger