Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 7 – QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

———————

Bản án số: 28/2025/HS-ST

Ngày 17 - 11 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Mai.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Phúc và bà Chế Thị Mai

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Thương – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 – Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn- Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân khu vực 7 – Quảng Ngãi mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 33/2025/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

Đặng Thế V

(Tên gọi khác: Không có), sinh ngày 11/02/1988 tại Kon Tum (nay là tỉnh Quảng Ngãi).

Nơi cư trú: Tổ D, phường K, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Lái xe (không ổn định); trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn N (đã chết) và bà Lê Thị H, sinh năm 1948 hiện sống tại tổ D, phường K, tỉnh Quảng Ngãi; Bị cáo chung sống như vợ chồng với chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1981; có 01 người con sinh năm 2014; Bị cáo là con thứ 05 trong gia đình có 05 anh chị.Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 19/8/2013, bị Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 7, tỉnh Quảng Ngãi) xử phạt 06 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” (đã xóa án tích); Ngày 05/8/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 7, tỉnh Quảng Ngãi) xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (đã được xóa án tích);

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường K, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Chị Trần Thị Thùy D, sinh năm 1995; Địa chỉ: Số B Bắc Kạn, phường K, tỉnh Quảng Ngãi. (Có đơn xin vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Trịnh Thị Tú U, sinh năm 1995; Địa chỉ: Thôn P, xã N, tỉnh Quảng Ngãi. (Có đơn xin vắng mặt)

- Người làm chứng:

  1. Ông Trịnh Đ, sinh năm 1966; Địa chỉ: Thôn P, xã N, tỉnh Quảng Ngãi. (Có đơn xin vắng mặt)
  2. Bà Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1970; Địa chỉ: Thôn K, xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi. (Có đơn xin vắng mặt)
  3. Anh Đỗ Ngọc C, sinh năm 1980; (Có đơn xin vắng mặt)
  4. Chị Lê Thị Thúy H2, sinh năm 1982; (Có đơn xin vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Thôn N, xã A, tỉnh Gia Lai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng từ năm 2017, chị Trần Thị Thùy D và bị cáo Đặng Thế V có mối quan hệ tình cảm và cùng chung sống tại nhà nghỉ N1 (Số B Bắc Kạn, thôn K, phường T, thành phố K, tỉnh Kon Tum - nay là phường K, tỉnh Quảng Ngãi). Trong quá trình chung sống giữa D và bị cáo V xảy ra nhiều mâu thuẫn, nên đến khoảng tháng 03/2025 cả hai đã chia tay. Sau khi chia tay, V nhiều lần nhắn tin, gọi điện, de dọa giết D, để cả hai cùng chết chung khiến chị D hoang mang, lo sợ nên đã chặn số điện thoại của V, V đã dùng số điện thoại khác (thuê bao sim rác) tiếp tục nhắn tin, gọi điện đe dọa giết D. Do lo sợ V sẽ giết mình nên ngày 18/4/2025, D đã đến nhà chị Trịnh Thị Tú U nhằm mục đích né tránh Việt. Đến sáng ngày 24/4/2025, bị cáo nghe D dẫn bạn trai về tại nhà nghỉ N1 nên bị cáo đã điều khiển xe mô tô BKS 43E1-260.54 đến nhà nghỉ N1 để tìm D nói chuyện, khi vào trong phòng của D thấy đồ nhậu vẫn còn để trong phòng, chưa dọn dẹp. Do ghen tuông, tức giận nên bị cáo đã điều khiển xe mô tô đi tìm D. Trên đường đi bị cáo thấy có vỏ can nhựa màu trắng, nắp màu đỏ bên đống rác lề đường Đào Duy T, phường K, tỉnh Quảng Ngãi nên đã nảy sinh ý định mua xăng để đe dọa đốt D, bị cáo nhặt can nhựa rồi đi đến cây xăng V1 trên đường Đ, phường T, thành phố K, tỉnh Kon Tum, (nay là phường K, tỉnh Quảng Ngãi) mua 20.000 đồng (hai mươi nghìn đồng) tiền xăng, rồi tiếp tục cầm can xăng đi đến nhà Trịnh Thị Tú U tìm D.

Khi đến nhà ông Trịnh Đ thì thấy D đi bộ từ nhà U qua ông Trịnh Đ nên bị cáo dừng xe, mở nắp can xăng và giấu can xăng trong áo khoác đang mặc rồi chạy xe đến gần D và dừng xe hỏi D “Em có thấy cái zippo của anh bên đây đâu không”, D trả lời “em không thấy, nếu thấy em đã đưa cho anh rồi”, bị cáo nói tiếp “Ra đây anh nói chuyện”. D không ra nên V xuống xe đi đến gần D và dùng tay phải nắm tay phải D kéo ra khỏi cổng nhưng không kéo được. Sau đó, V dùng tay phải giữ hai tay của D, khống chế, ép D vào trụ tường bê tông ở trong cổng, rồi dùng tay trái lấy ra can nhựa có đựng xăng, đổ xăng trong can lên người bị cáo và người của D. Lúc này, U đứng gần đó chạy lại can ngăn thì V dùng tay trái đang cầm can xăng hất U ra thì U cũng bị xăng tạt vào người, sau đó bị cáo bỏ can nhựa xuống đất. U chạy vào vòi nước gần đó và hô hoán “Bố ơi, ông V đổ xăng lên người con D”. Nghe vậy, bị cáo thả tay của D ra, D chạy lại chỗ U và cùng rửa xăng trên người. Lúc này, ông Trịnh Đ chạy ra túm cổ áo của V đẩy ra ngoài, đóng cổng lại không cho V vào sân nhà. V chửi D và xin lỗi ông Đ, nghe U nói báo Công an nên V lên xe bỏ đi.

Vì tâm lý hoảng loạn, lo sợ V sẽ tiếp tục tìm đến giết mình nên D đã đến ở nhà bà Nguyễn Thị Đ1 ở từ ngày 24/4/2025 đến ngày 26/4/2025. Trong thời gian ở nhà bà Đ1, D luôn có tâm lý hoảng sợ, không dám đi ra khỏi phòng ngủ và dặn bà Đ1 khi đi ra ngoài phải khóa cửa lại, nếu V đến hỏi thì nói không biết D ở đâu. Đến sáng ngày 26/4/2025, D xuống nhà Đỗ Ngọc C và Lê Thị Thúy H2 là chú thím của D để trốn tránh V, đảm bảo an toàn.

Tại bản Kết luận số 481/KL-KTHS ngày 21/5/2025 của Phòng K - Công an tỉnh G, kết luận:

Trên 01 (Một) áo thun nữ màu cam, 01 (một) quần đùi nữ màu đen và 01 (một) quần lót nữ màu đen đựng trong túi niêm phong NS1, mã số NS1 24140201 gửi giám định (do Trịnh Thị Tú U giao nộp) không tìm thấy thành phần nhiên liệu;

Trên 01 (Một) quần đùi mặc váy màu kem đựng trong túi niêm phong NS1, mã số NS1 24140202 gửi giám định (Trần Thị Thùy D giao nộp) không tìm thấy thành phần nhiên liệu;

Trên 01 (Một) váy màu trắng, có in họa tiết hoa văn và 01 (một) quần lót màu đà đựng trong túi niêm phong NS1, mã số NS1 24140202 gửi giám định (Trần Thị Thùy D giao nộp) có tìm thấy thành phần nhiên liệu (Xăng);

Trong 01 (Một) can nhựa màu trắng, nắp màu đỏ, trên can có chữ “LOTHAMILK” gửi giám định (do ông Trịnh Đ giao nộp) có tìm thấy thành phần nhiên liệu (Xăng).

Tại bản Kết luận giám định số 768/KL-KTHS ngày 12/8/2025 của Phòng K - Công an tỉnh Q kết luận:

Dữ liệu trích xuất của 01 (một) điện thoại di động dạng cảm ứng nhãn hiệu Iphone 7 Plus, mùa vàng, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong, số IMEI: 355834088606176, bên trong thân máy chứa 01 thẻ sim Mobiphone, số seri: 8401 2207 5096 4092, số thuê bao: 0772 515 487 (điện thoại của D):

Không cài đặt ứng dụng Zalo trong điện thoại. Không tìm thấy dữ liệu tin nhắn trong ứng dụng "MESENGER" với tài khoản Võ Minh H3 dangvietkt1987@icould.comDữ liệu tin nhăn trong ứng dụng "FACEBOOK" của tài khoản có tên "Dĩnh Trân" thông tin tài khoản "@dinhkute95" với tài khoản có tên "Đặng V", có: 16 hình ảnh có nội dung liên quan. Dữ liệu tin nhắn trong ứng dụng "TIKTOK" của tài khoản có tên "@dinhkute95" với tài khoản "@theviet87 (Thế Việt)", có: 06 hình ảnh có nội dung liên quan; Không tìm thấy dữ liệu tín nhắn SMS với số điện thoại 0966.395.xxx; 0364.052.766; 0784.683.279 (trong đó thể hiện các đoạn nội dung tin nhắn thể hiện mâu thuẫn, đe dọa giết, chết chung giữa V và D).

Tại Cáo trạng số 03/CT-VKSKV7 ngày 27 tháng 10 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Quảng Ngãi truy tố bị cáo Đặng Thế V về tội “Đe dọa giết người” theo khoản 1 Điều 133 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho bị hại, bị hại có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo và xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 133, các điểm b,s,i khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2025;

Xử phạt bị cáo Đặng Thế V từ 30 tháng đến 36 tháng cải tạo không giam giữ. Do bị cáo thu nhập không ổn định nên đề nghị không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho bị hại, chị D đã nhận tiền và không có yêu cầu đề nghị gì nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành: tịch thu, tiêu hủy 01 (một) can nhựa màu trắng, nắp màu đỏ.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Các hành vi tiến hành tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên cũng như các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Quảng Ngãi trong quá trình điều tra, truy tố đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, không có người tham gia tố tụng nào khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai trước đây tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khại bị hại, người làm chứng, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Do xuất phát từ mâu thuẫn tình cảm, tháng 4/2025, bị cáo Đặng Thế V nhiều lần đe dọa giết, chết chung cùng với chị Trần Thị Thùy D, do lo sợ nên chị D đã chặn số điện thoại, bị cáo tiếp tục sử dụng số thuê bao khác nhắn tin, gọi điện đe dọa giết chị D nên chị phải đến nhà bạn mình là Trịnh Thị Tú U để tránh mặt bị cáo. Đỉnh điểm đến sáng ngày 24/4/2025, do ghen tuông nên bị cáo đã mua 20.000 đồng tiền xăng đựng trong 01 (một) can nhựa và đi tìm chị D. Khi gặp D, bị cáo đã đổ xăng lên người bị cáo và chị D và đe dọa sẽ chết chung (mặc dù bị cáo không cầm theo bật lửa hoặc các vật tạo lửa khác). Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo tiếp tục đi tìm và đe dọa chị D làm cho tâm lý D bất an, lo lắng, hoảng sợ. Do lo sợ mình sẽ bị giết, chị D không dám ở nhà của mình mà phải đi nhiều nơi khác nhau để tránh mặt bị cáo.

Hành vi trên của bị cáo phạm tội “Đe dọa giết người” quy định tại khoản 1 Điều 133 Bộ luật hình sự đúng như Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Quảng Ngãi truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền được sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ sức khỏe, tính mạng của con người, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, tuy nhiên chỉ vì ghen tuông quá mức dẫn đến hành động đe dọa để gây ra sự lo sợ cho bị hại.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho bị hại, bị hại có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo và theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 04/2005/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự... thì bị cáo thuộc trường hợp phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, do đó, Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù mà chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ quy định tại Điều 36 Bộ luật hình sự là phù hợp quy định pháp luật và để bị cáo thấy được tính khoan hồng của pháp luật.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho chị Trần Thị Thùy D, chị D đã nhận tiền và không có yêu cầu đề nghị gì khác. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trịnh Thị Tú U không có yêu cầu về mặt dân sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6] Về khấu trừ thu nhập: Xét thấy mặc dù bị cáo làm nghề lái xe nhưng thu nhập không ổn định, do vậy không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng trong vụ án: Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh Q đã ra Quyết định xử lý vật chứng: Trả lại 01 (Một) áo thun nữ, màu cam, 01 (Một) quần đùi nữ màu đen và 01 (một) quần lót nữ màu đen cho chủ sở hữu là Trịnh Thị Tú U; Trả lại 01 (Một) váy màu trắng, có in họa tiết hoa văn, 01 (Một) quần đùi màu kem và 01 (một) quần lót màu đà cho chủ sở hữu là Trần Thị Thùy D; Trả lại 01 (một) điện thoại Iphone 7 Plus số máy FNQK2LL/A; Số sê-ri FYQTP1NUHG02, màu vàng cát, không kiểm tra tình trạng bên trong cho chủ sở hữu là Trần Thị Thùy D là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với 01 (một) can nhựa màu trắng, nắp màu đỏ. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự: Tuyên tịch thu, tiêu hủy.

[8] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Đặng Thế V phạm tội “Đe doạ giết người”.

    Áp dụng Khoản 1 Điều 133; các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025;

    Xử phạt bị cáo Đặng Thế V 30 (Ba mươi) tháng cải tạo không giam giữ. Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

    Thời điểm chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh Q nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

    Giao bị cáo Đặng Thế V cho Ủy ban nhân dân phường K, tỉnh Quảng Ngãi giám sát và giáo dục bị cáo. Gia đình bị cáo có trách hiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát và giáo dục đối với bị cáo.

    Trường hợp người chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật thi hành án hình sự.

  2. Về xử lý vật chứng:

    Áp dụng điểm c, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự: tịch thu, tiêu hủy 01 (một) can nhựa màu trắng, nắp màu đỏ.

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/11/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7 – Quảng Ngãi).

  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, phí, lệ phí Toà án. Bị cáo Đặng Thế V phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo bản án để giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Đối với bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Phúc

Chế Thị Mai

Nguyễn Thị Như Mai

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ngãi;
  • - VKSND khu vực 7;
  • - VKSND Tỉnh Quảng Ngãi;
  • - Công an tỉnh;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự;
  • - Cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh;
  • - Bị cáo và người tham GTT;
  • - UNBD P Kon Tum
  • - Lưu hồ sơ.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2025/HS-ST ngày 17/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – QUẢNG NGÃI về hình sự (tội đe doạ giết người)

  • Số bản án: 28/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Đe doạ giết người)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – QUẢNG NGÃI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Đặng Thế Việt phạm tội Đe dọa giết người
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger