|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 28/2025/HS-ST
Ngày 13 - 6 - 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Phi Long
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ngọc Đính
Bà Nguyễn Thị Vân Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thu Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Dương - Kiểm sát viên
Ngày 13/6/2025, Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 14/2025/TLST-HS ngày 21/4/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/20252025/QĐXXST-HS ngày 29/5/2025 đối với:
- Bị cáo:
Hà Thị M (Tên gọi khác: Không) - Sinh ngày 10 tháng 5 năm 1962 tại V, tỉnh Yên Bái.
Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã Y, huyện V, tỉnh Yên Bái; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 07/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Tiền án, tiền sự: Không;
Con ông Hà Văn T và bà Ngụy Thị L (Đều đã chết). Bị cáo chung sống như vợ chồng với ông Nguyễn Ngọc S (đã chết) và có 01 con gái sinh năm 1982.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2024. Hiện bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Hà Thị M: Ông Bùi Xuân D - Luật sư, Văn phòng L1, Đoàn luật sư tỉnh L. Địa chỉ: Số A, đường T, tổ C, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Chị Hoàng Thị T1 - Địa chỉ: Tổ A, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị H - Địa chỉ: Tổ D, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
- + Bà Phạm Thị T2 - Địa chỉ: Tổ D, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
- + Ông Phạm Văn T3 - Địa chỉ: Tổ D, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
- + Ông Phạm Văn T4 - Địa chỉ: Thôn T, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
- + Bà Hoàng Thị D1 - Địa chỉ: Tổ A, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
- + Bà Đỗ Thị C - Địa chỉ: Tổ A, thị trấn M, huyện V, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 1996, Hà Thị M (sinh năm 1962, trú quán; thôn T, xã Y, huyện V, tỉnh Yên Bái) đi sang huyện H, tỉnh Vân Nam Trung Quốc làm thuê, sau đó thỉnh thoảng M có đi về Việt Nam thăm con gái là Nguyễn Thị H1 (sinh năm 1982) ở phòng trọ tại khu vực Ga L (nay thuộc phường L, thành phố L). Tại đây M có gặp Phạm Văn H2 (sinh năm 1978, trú tại; Tổ D, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lào Cai) cùng Phạm Thị H (sinh năm 1980) là em gái của H2 đến chơi. Quá trình nói chuyện, H biết M hiện đang làm thuê bên Trung Quốc. Tháng 8/1997, do mâu thuẫn gia đình nên H đi đến gặp M ở phòng trọ tại khu vực G Lào Cai hỏi M cho H đi cùng sang Trung Quốc làm thuê. M đồng ý rồi đưa H sang Trung Quốc. Tại Trung Quốc, M và H làm gái bán dâm cho khách. Sau đó M nói với H nếu về Việt Nam tìm phụ nữ đưa sang Trung Quốc giao cho M để làm gái bán dâm thì M sẽ trả tiền công H đồng ý. Tháng 11/1997, H từ Trung Quốc đi về Việt Nam và có rủ Hoàng Thị T1 (sinh năm 1976), trú tại thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai (nay là Tổ D, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lào Cai) đi làm thuê công việc xé vải và rửa bát cho chị M lương 400.000 đồng đến 500.000đồng/tháng. T1 nói có con nhỏ không đi được nên H nói cho cả con đi cũng được, T1 đồng ý. H đưa cho T1 30.000đồng bảo bắt xe ôm đi ra khu vực phòng trọ gần Ga L gặp H và M, sau đó T1 đi xe ôm đến địa chỉ trên. Tại đây M nói với T1 cứ đi làm xem thế nào, nếu không làm được thì lại đi về (không nói làm công việc gì và đi làm ở đâu). Đến tối cùng ngày trước khi đi M bảo T1 gửi con lại cho H1 trông hộ rồi M và H đưa T1 đi đò qua sông sang H - Trung Quốc thì T1 phát hiện bị lừa nên đòi về Việt Nam, M và H không cho T1 về rồi hai người đưa T1 đến một quán ăn gần nhà trọ do M quản lý. Tại đây M và H bắt T1 làm gái bán dâm cho khách mỗi ngày từ 2 đến 4 lần, M là người trực tiếp quản lý và thu tiền của khách mua dâm. Sau khi làm được khoảng 20 ngày T1 đòi về nên M đồng ý đưa T1 về Việt Nam rồi trả cho T1 500.000 đồng tiền công bán dâm và trả cho H 01 bộ quần áo trị giá 60.000 đồng là tiền công giao T1 cho M. Sau khi về Việt Nam, T1 đã làm đơn trình báo Cơ quan công an về hành vi phạm tội của M và H. Pham Thị H3 đã bị bắt và bị Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai xét xử ngày 30/3/2001. Đối với Hà Thị M sau khi đưa T1 về Việt Nam, M tiếp tục đi sang Trung Quốc làm ăn, đến ngày 18/07/2024 thì bị Công an Trung Quốc bắt giữ và trao trả về Việt Nam. Quá trình điều tra bị cáo Hà Thị M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Cáo trạng số 16/CT-VKST-P2 ngày 21/4/2025 của VKSND tỉnh Lào Cai đã truy tố bị cáo Hà Thị M về tội “Mua bán người” theo điểm d khoản 2 Điều 150 Bộ luật Hình sự 2015.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Bị cáo Hà Thị M có lúc quanh co, chối tội, nhưng sau đó đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố thay đổi truy tố đối với bị cáo, quyết định truy tố bị cáo Hà Thị M về tội “Mua bán phụ nữ” theo điểm b khoản 2 Điều 115 Bộ luật hình sự 1985.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu lời luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 điều 115; Điểm h khoản 1 Điều 38, Điều 17, Điều 25 Bộ luật hình sự 1985, xử phạt bị cáo Hà Thị M từ 06 - 08 năm tù. Tuyên án phí, quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày quan điểm bào chữa và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 điều 115; Điểm h khoản 1 Điều 38, Điều 17 Bộ luật hình sự 1985, xử phạt bị cáo Hà Thị M 05 năm tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh
Tại phiên tòa, bị cáo Hà Thị M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở khẳng định: Tháng 8/1997, vì mục đích kiếm tiền chi tiêu cá nhân, Hà Thị M và Phạm Thị H đã có hành vi lừa đưa bị hại Hoàng Thị T1 qua biên giới sang Trung Quốc làm gái bán dâm.
Hành vi của bị cáo Hà Thị M và bị cáo Phạm Thị H đã cấu thành tội “Mua bán phụ nữ”. Bản cáo trạng số 16/CT-VKST-P2 ngày 21/4/2025 của VKSND tỉnh Lào Cai đã truy tố bị cáo Hà Thị M về tội “Mua bán phụ nữ” với tình tiết định khung “Để đưa ra nước ngoài” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 115 Bộ luật hình sự 1985 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Bị cáo Phạm Thị H đã bị TAND tỉnh Lào Cai xét xử tại bản án số 25/HSST ngày 30/3/2001 về tội Mua bán phụ nữ.
[3] Về hình phạt:
Hành vi phạm tội của bị cáo Hà Thị M thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng đã xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm của người khác được pháp luật bảo vệ.
Đây là vụ án đồng phạm, trong đó bị cáo Hà Thị M là người khởi xướng, bảo Phạm Thị H tìm người để đưa sang Trung Quốc làm gái bán dâm, trực tiếp cùng H đưa bị hại T1 sang Trung Quốc, nên giữ vai trò chính trong vụ án. Bị cáo Phạm Thị H sau khi được M bảo đã rủ bị hại T1 sang Trung Quốc, trực tiếp cùng M đưa T1 sang Trung Quốc, nên giữ vai trò sau bị cáo M, là người thực hành tích cực.
Trước khi phạm tội, bị cáo Hà Thị M có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tại phiên tòa, bị cáo có lúc quanh co, chối tội nhưng sau đó đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 1985. Căn cứ nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cần thiết phải xử phạt bị cáo hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo không có tài sản riêng, không có nghề nghiệp ổn định nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
[4] Về trách nhiệm dân sự
Bị hại Hoàng Thị T1 không yêu cầu bị cáo Hà Thị M phải bồi thường về phần dân sự, do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về án phí: Do bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Hà Thị M phạm tội “Mua bán phụ nữ”
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 115; Điểm h khoản 1 Điều 38, Điều 17, Điều 25 Bộ luật Hình sự 1985, xử phạt bị cáo Hà Thị M 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 19/12/2024.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Hà Thị M phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự ".
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Phi Long |
Bản án số 28/2025/HS-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI về mua bán phụ nữ
- Số bản án: 28/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán phụ nữ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Hà Thị M phạm tội "Mua bán phụ nữ"
