|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC TỈNH CÀ MAU Bản án số: 28/2025/HS-ST Ngày 13 – 6 – 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Lê .
Ông Trần Quốc Trí.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thu Khiếm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Nước.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Mãy - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn R, sinh ngày 17/7/1977 tại huyện C, tỉnh Cà Mau. Nơi cư trú: Khóm Ngọc H, thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Võ Thị D (đã chết); vợ: Lê Thị Út E, con: 02 người; tiền án, tiền sự: Không; khởi tố, cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 19/02/2025; bị cáo tại ngoại có mặt.
Bị hại: Anh Trương Văn B, sinh năm 1988; cư trú tại: Khóm N, thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 14/11/2024, Nguyễn Văn R ở khóm N, thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau, do bực tức từ mâu thuẫn cải nhau do nghi ngờ con của Trương Văn B ở cập nhà của Nguyễn Văn R lấy 02 cái ly uống rượu của R, cùng với việc khoảng 23 giờ ngày 13/11/2024 B có dùng dao dọa chém R. Nên R kêu B qua nhà để nói chuyện, khi qua B cầm theo 01 con dao có chiều dài 35cm, có cán bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại, mũi dao bầu nhọn, rủ R chém nhau. Khi nhìn thấy B cầm con dao đi qua thì R vô nhà đi lại vị trí giường ngủ dùng tay phải lấy 01 con dao có chiều dài 57cm, không có cán, lưỡi bằng kim loại, mũi dao bầu nhọn và dùng tay trái lấy 01 khúc cây gỗ có chiều dài 78,2cm, dạng hình vuông cạnh, kích thước 03cm x 3,8cm ở dưới đất khu vực cạnh giường ngủ, chạy ra trước cửa nhà của R, nơi B đang đứng. Dùng dao chém vào đầu B gây thương tích tại các vị trí: vùng trán lệch trái, vùng trán trái và vùng thái dương trái, dùng khúc cây gỗ đánh trúng vào người B 03 đến 04 cái. Thấy vậy, B bỏ chạy ra trước sân nhà của R nhưng bị vấp té, R mới đuổi theo và đè lên người Bảo hù dọa đòi cắt cổ, móc mắt B. Nghe tiếng la của B nên chị Nguyễn Thị K (vợ của B) chạy ra can ngăn và hô gọi anh T1 đến giúp, T1 chạy tới lấy con dao trên tay R và đưa B đến Bệnh viện Đ để điều trị.
Ngày 05/12/2024, anh Trương Văn B có đơn yêu cầu giám định thương tích và xử lý hình sự đối với Nguyễn Văn R.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 303/KLTTCT-TTPY ngày 13/12/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh C kết luận tổn thương cơ thể của anh Trương Văn B như sau:
- - 01 vết sẹo vùng trán lệch trái (dưới chân tóc) kích thước 05cm x 0,2cm: 03% (ba phần trăm). Do vật sắc, vật sắc nhọn gây ra.
- - 01 vết sẹo vùng trán trái (dưới chân tóc) kích thước 02cm x 0,1cm: 03% (ba phần trăm). Do vật sắc, vật sắc nhọn gây ra.
- - 01 vết sẹo thái dương trái (sau tai trái) kích thước 2,5cm x 0,2cm: 01% (một phần trăm). Do vật sắc, vật sắc nhọn gây ra.
Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của Trương Văn B tại thời điểm giám định là: 07% (bảy phần trăm), áp dụng theo phương pháp cộng tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019.
Vật chứng vụ án: 01 con dao có chiều dài 57cm, không có cán, lưỡi bằng kim loại, mũi dao bầu nhọn; 01 cây dao có chiều dài 35cm, có cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại, mũi dao bầu nhọn; 01 khúc cây gỗ có chiều dài 78,2cm dạng hình vuông cạnh, kích thước 03cm x 3,8cm, các vật chứng trên do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C thu giữ, bảo quản.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trương Văn B yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn R bồi thường chi phí điều trị thương tích, thu nhập bị mất của bản thân và người chăm sóc, tổn thất tinh thần với tổng số tiền là 157.782.166 đồng.
Tại Cáo trạng số 25/CT-VKS ngày 26 tháng 4 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau truy tố bị cáo Nguyễn Văn R về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị hại Trương Văn B yêu cầu xử lý bị cáo R theo đúng quy định của pháp luật; còn bồi thường thì chấp nhận theo quyết định của Hội đồng xét xử.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn R từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích".
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy gồm: 01 (một) cây dao có chiều dài 57cm, không có cán, lưỡi dao bằng kim loại, mũi dao bầu nhọn (đã qua sử dụng); 01 (một) cây dao có chiều dài 35cm, có cán bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại, mũi dao bầu nhọn (đã qua sử dụng); 01 (một) khúc gỗ có chiều dài 78,2cm, dạng hình vuông cạnh, kích thước 03cm x 3,8cm, không xác định được tên gọi, loại cây gỗ (đã qua sử dụng).
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Văn R phải tiếp tục bồi thường cho anh Trương Văn B số tiền 27.442.166 đồng.
Anh Trương Văn B được nhận số tiền 500.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0003059 ngày 13/5/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước.
Không chấp nhận yêu cầu của anh Trương Văn B, về việc yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn R bồi thường số tiền 130.340.000 đồng.
Bị cáo R không tham gia tranh luận, bị cáo thống nhất với bản luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo trình bày lời nói sau cùng là xin được giảm nhẹ hình phạt, hoàn cảnh gia đình khó khăn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn R thừa nhận hành vi của mình là phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại, người làm chứng, phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản kiểm tra nơi xảy ra sự việc và Bản kết luận giám định pháp y về thương tích, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Vào khoảng 00 giờ 30 phút ngày 14/11/2024, tại nhà của bị cáo Nguyễn Văn R thuộc khóm N, thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau xuất phát từ việc bị cáo R bị mất 02 cái ly và nghi ngờ con của anh Trương Văn B lấy trộm nên cả hai xảy ra mâu thuẫn, cự cãi nhau, bị cáo Nguyễn Văn R đã có hành vi dùng con dao chiều dài 57cm, không có cán, lưỡi bằng kim loại, mũi dao bầu nhọn và 01 khúc cây gỗ có chiều dài 78,2cm dạng hình vuông cạnh, kích thước 03cm x 3,8cm đánh và chém anh Trương Văn B, với tỷ lệ tổn hại sức khỏe theo kết quả giám định 07%.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn R đã vi phạm pháp luật hình sự; đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác trái pháp luật.
Khi thực hiện hành vi chém, đánh anh B, bị cáo Nguyễn Văn R có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rõ hành vi gây thương tích cho bị hại là bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp.
Với các yếu tố như đã nêu trên, có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Văn R đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước truy tố bị cáo là có cơ sở, đúng quy định pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi do bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo không những trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác mà còn làm ảnh hưởng an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi của bị cáo đã thực hiện để có thời gian giáo dục, cải tạo bị cáo để trở thành người có ích cho xã hội.
[4] Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử có xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã nộp bồi thường khắc phục hậu quả một phần cho bị hại; có một phần lỗi của bị hại. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên cần áp dụng thêm khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự.
[5] Từ những phân tích, đánh giá nêu trên nên đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Tuy nhiên, về mức hình phạt khi lượng hình có cân nhắc nhẹ hơn đề nghị một phần.
[6] Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa anh B yêu cầu bị cáo R bồi thường chi phí điều trị thương tích, thu nhập bị mất của bản thân và người chăm sóc, tổn thất tinh thần với tổng số tiền là 157.782.166 đồng, cụ thể: Chi phí điều trị tại Bệnh viện Đ theo hóa đơn là 4.582.166 đồng; chi phí ăn uống của bị hại và người chăm sóc trong thời gian điều trị từ ngày 14/11/2024 đến ngày 05/12/2024 là 22 ngày x 02 người x 200.000 đồng = 8.800.000 đồng; thiệt hại bị mất thu nhập mỗi ngày 400.000 đồng x 52 ngày (gồm 22 ngày nằm viện + 30 ngày phục hồi sức khỏe) = 20.800.000 đồng; chi phí thu nhập thực tế của người chăm sóc trong thời gian điều trị là 22 ngày x 300.000 đồng = 6.600.000 đồng; bồi thường tổn thất về tinh thần bằng 50 lần mức lương cơ sở là 117.000.000 đồng.
Thấy rằng, thương tích của bị hại là do bị cáo gây ra, nên bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại thực tế cho bị hại là đúng quy định của pháp luật tại các Điều 584, Điều 585, Điều 590 Bộ luật Dân sự. Theo hồ sơ thể hiện anh B nhập viện điều trị 22 ngày (từ ngày ngày 14/11/2024 đến ngày 05/12/2024), anh B có cung cấp toa vé kèm theo tổng số tiền điều trị là 5.405.342 đồng (Bút lục 144, 145, 146), tuy nhiên anh B chỉ yêu cầu chi phí điều trị tại Bệnh viện Đ theo hóa đơn là 4.582.166 đồng nên có căn cứ chấp nhận số tiền 4.582.166 đồng mà anh B yêu cầu.
Đối với các khoản khác anh B yêu cầu có cơ sở chấp nhận gồm: Tại biên bản ghi lời khai (bút lục từ số 111 đến 114) thể hiện thu nhập của bị hại B mỗi ngày là 300.000 đồng; vợ bị hại B (nuôi bị hại khi nằm viện) thu nhập mỗi tháng là 2.500.000 đồng nên tiền mất thu nhập của bị hại là 22 ngày x 300.000 đồng/ngày = 6.600.000 đồng và người nuôi bệnh thu nhập 2.500.000 đồng/tháng x 22 ngày = 1.833.000 đồng; tiền ăn của người bệnh và người nuôi bệnh 22 ngày x 70.000 đồng/ngày x 02 người = 3.080.000 đồng và tiền tổn thất về tinh thần bằng 02 tháng lương cơ sở = 02 tháng lương x 2.340.000 đồng/tháng = 4.680.000 đồng. Do đó, tổng số tiền thiệt hại của bị hại buộc bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường là 20.775.000 đồng (làm tròn). Tại phiên tòa bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường tổng cộng là 157.782.166 đồng nên số tiền không được chấp nhận là 137.007.166 đồng.
Xét thấy, trong vụ án này, bị hại cũng có một phần lỗi nên Hội đồng xét xử chia lỗi 7/3 do đó số tiền được tính bị cáo 70%, bị hại 30% trên tổng số tiền được chấp nhận là 20.775.000 đồng (20.775.000 đồng x 70% = 14.542.500 đồng). Do đó, buộc bị cáo R bồi thường thiệt hại cho bị hại B tổng số tiền là 14.542.500 đồng. Bị cáo R đã nộp khắc phục hậu quả số tiền 500.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0003059 ngày 13/5/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước được đối trừ, số tiền còn lại bị cáo phải tiếp tục bồi thường là 14.042.500 đồng.
[7] Về xử lý vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy gồm: 01 (một) cây dao có chiều dài 57cm, không có cán, lưỡi dao bằng kim loại, mũi dao bầu nhọn (đã qua sử dụng); 01 (một) cây dao có chiều dài 35cm, có cán bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại, mũi dao bầu nhọn (đã qua sử dụng); 01 (một) khúc gỗ có chiều dài 78,2cm, dạng hình vuông cạnh, kích thước 03cm x 3,8cm, không xác định được tên gọi, loại cây gỗ (đã qua sử dụng).
[8] Về án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Bị cáo phải chịu theo quy định.
Bị hại không phải chịu án phí đối với yêu cầu không được chấp nhận.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38; khoản 1 Điều 47; khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; các Điều 468; 584; Điều 585; Điều 590 Bộ luật dân sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 và Điều 155 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn R phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn R 03 (ba) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Văn R phải tiếp tục bồi thường cho anh Trương Văn B số tiền 14.042.500 đồng (Mười bốn triệu không trăm bốn mươi hai nghìn năm trăm đồng).
Anh Trương Văn B được nhận số tiền 500.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0003059 ngày 13/5/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước.
Không chấp nhận yêu cầu của anh Trương Văn B, về việc yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn R bồi thường số tiền 137.007.166 đồng.
Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
- Về xử lý vật chứng:
Tịch thu, tiêu hủy gồm: 01 (một) cây dao có chiều dài 57cm, không có cán, lưỡi dao bằng kim loại, mũi dao bầu nhọn (đã qua sử dụng); 01 (một) cây dao có chiều dài 35cm, có cán bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại, mũi dao bầu nhọn (đã qua sử dụng); 01 (một) khúc gỗ có chiều dài 78,2cm, dạng hình vuông cạnh, kích thước 03cm x 3,8cm, không xác định được tên gọi, loại cây gỗ (đã qua sử dụng).
(Số vật chứng này do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước đang quản lý theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 26/4/2025)
- Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn R phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch 5% buộc bị cáo Nguyễn Văn R phải chịu 702.000 đồng (làm tròn số), nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước khi án có hiệu lực pháp luật.
Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo R và bị hại B có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thanh Hiền |
Bản án số 28/2025/HS-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 28/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn R phạm tội “Cố ý gây thương tích”
