Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN PHÚ XUÂN

THÀNH PHỐ HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2025/HS-ST

Ngày: 11 - 4 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ XUÂN, THÀNH PHỐ HUẾ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Như Thuần.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Hoàng Vỹ và Huỳnh Văn Đạm.
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh, Thư ký Tòa án nhân dân quận Phú Xuân.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Xuân tham gia phiên tòa: Ông Kiều Anh Mỹ, Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Phú Xuân, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 26/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2025/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Phúc Minh Đ, sinh ngày 13/01/2001, tại thành phố H; giới tính: Nam; CCCD số: [...]; nơi cư trú: Số C T, phường T, quận P, thành phố H; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Phúc Á (đã chết) và bà Trần Thị Minh T, sinh năm 1975; anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là con thứ 02; chưa có vợ, con. Tiền án: Không; Có 01 tiền sự: Ngày 06/6/2024, bị Công an thành phố H xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” tại Quyết định số 8064. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 19/02/2025 cho đến nay; có mặt.

- Bị hại: Trường Tiểu học T2, quận P, thành Phố H; Địa chỉ: A T, phường T, quận P, thành Phố H Người đại diện theo pháp luật: Bà Ngô Thị Thúy L, sinh năm 1972; chức vụ: Hiệu trưởng.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Quang N, sinh năm 1976; nghề nghiệp: Nhân viên bảo vệ; Địa chỉ: A T, phường T, quận P, thành Phố H (Theo Giấy ủy quyền ngày 17/02/2025); có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Hoàng V, sinh năm 1991; Địa chỉ: Số A T, phường H, quận P, thành Phố H; vắng mặt.

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 13 giờ 20 phút ngày 18/10/2024, Nguyễn Phúc Minh Đ đi bộ đến trước cổng trường Tiểu học T2, quận P, thành phố H thì thấy 01 khung thép để làm bảng tin tuyên truyền an toàn giao thông của nhà trường dựng trước cổng; Đ lấy trộm khung thép rồi đưa đến cơ sở phế liệu số DT, phường T, quận P, thành phố H bán cho anh Hoàng V được 53.000 đồng. Sau khi phát hiện tài sản bị mất trộm đại diện trường Tiểu học T3 đã có đơn trình báo. Quá trình điều tra, Nguyễn Phúc Minh Đ đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình.

  • * Vật chứng tạm giữ: 01 Khung thép dạng hộp có kích thước (1,8 x2,5)m dùng làm bảng tin quảng cáo (khung đã qua sử dụng).
  • * Kết luận định giá tài sản số 6785/KL-HĐĐGTS ngày 09/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố H, kết luận: 01 khung thép dạng hộp có kích thước (1,8 x2,5)m dùng làm bảng tin quảng cáo, (đã qua sử dụng), tại thời điểm ngày 18/10/2024, trị giá 150.000 đồng.
  • * Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận P, thành phố H đã trả lại 01 khung thép nêu trên cho đại diện trường Tiểu học T2.
  • * Về trách nhiệm dân sự: Đại diện trường Tiểu học T2 không yêu cầu bị cáo bồi thường. Anh Hoàng V đã nhận lại số tiền 53.000 đồng từ Đ và không có yêu cầu gì thêm.

Tại bản Cáo trạng số 25/CT-VKSPX ngày 17 tháng 3 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Xuân, thành phố H đã truy tố bị cáo Nguyễn Phúc Minh Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Xuân giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Phúc Minh Đ từ 04 đến 05 tháng tù. Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo phải chịu theo luật định.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố. Lời nói sau cùng của bị cáo thể hiện sự ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quyết định, hành vi tố tụng: Các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

2

[1.2] Tại phiên tòa, bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt. Tuy nhiên, quá trình điều tra đã thu thập lời khai của những người này, phía bị hại có đơn xin vắng mặt. Xét thấy việc vắng mặt những người này không ảnh hưởng quá trình xét xử, căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về tội danh:

Có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 13 giờ 20 phút ngày 18/10/2024 tại trước cổng trường Tiểu học T2, địa chỉ số A T, phường T, quận P, thành phố H, Nguyễn Phúc Minh Đ đã lén lút chiếm đoạt của nhà trường 01 khung thép dạng hộp dùng làm bảng tin quảng cáo trị giá 150.000 đồng.

Giá trị tài sản mà Đ chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng, nhưng do Đ đang có tiền sự về hành vi “Trộm cắp tài sản” tại Quyết định số 8064 ngày 06/6/2024 của Công an thành phố H nên hành vi lần này của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Xuân truy tố bị cáo Nguyễn Phúc Minh Đ về tội danh, điều luật như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì lòng tham, thói lười biếng, muốn có tiền một cách nhanh chóng nên vẫn cố ý phạm tội. Hành vi của bị cáo thể hiện sự xem thường pháp luật, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, việc truy tố và đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết, cần có mức hình phạt tương xứng để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng: Bị cáo Nguyễn Phúc Minh Đ không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, đã bồi thường thiệt hại cho anh Hoàng V; bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Cần xem xét cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Do bị cáo có nhiều nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự, cho bị cáo được hưởng mức án dưới mức thấp nhất khung hình phạt được áp dụng, thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.

[5] Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận P, thành phố H đã trả lại 01 khung thép cho đại diện trường Tiểu học T2 là đúng quy định của pháp luật.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Đại diện Trường tiểu học T2 không yêu cầu Đ bồi thường gì thêm. Anh Hoàng V đã nhận lại số tiền 53.000 đồng từ Đ và không có yêu cầu gì. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

3

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; các điểm b, h, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phúc Minh Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Phúc Minh Đ 05 (năm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 19/02/2025.

  1. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Nguyễn Phúc Minh Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; những người trên vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Hoàng Thị Như T1

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2025/HS-ST ngày 11/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ XUÂN, THÀNH PHỐ HUẾ về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 28/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ XUÂN, THÀNH PHỐ HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger