Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN H

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2025/HS-ST

Ngày 11 - 3 -2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Bảo Yến.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Bỉnh Quyền

Ông Bùi Khắc Dương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thu Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hòa - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 19/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2025 đối với:

Bị cáo Lê Văn H, sinh năm 1983 tại xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; số CCCD: [...]; nơi cư trú: thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị C; Gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ ba; Vợ, con: chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/8/2024 đến nay, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân Trại tạm giam khu vực H – Trại tạm giam Công an tỉnh T.

Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Đỗ Văn N, sinh năm 1986;

Địa chỉ: thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

- Người làm chứng:

  • + Anh Lê Trung B, sinh năm 1974; Có mặt.
  • + Anh Lê Văn T1, sinh năm 1990; Có mặt.
  • + Anh Lê Thiệu T2, sinh năm 1996; Vắng mặt.
  • + Bà Dương Thị X, sinh năm 1965; Vắng mặt.
  • + Bà Lê Thị L, sinh năm 1947; Vắng mặt.

Cùng địa chỉ: thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối 23/05/2024, tại nhà anh Lê Trung B hồi công thợ sửa nhà, Lê Văn T1, và Đỗ Văn N với anh B cũng đến nhà anh B để ăn uống cùng mọi người. Tại đây, N và T1 tranh luận với nhau và xảy ra mâu thuẫn, khi về nhà T1 nói với anh trai là Lê Văn H về việc cãi nhau với N và bị N dọa đánh. Sau đó H có ý định đi đến nhà anh N để nói chuyện, khi đi H mang theo một con dao, dạng dao phay màu đen, đã cũ dài khoảng 40 cm cùng cây gậy dạng ống tuýp (loại nhỏ) bỏ vào trong bì để ở giữa yên xe và đầu xe máy Wave RSX biển số 36B7 – 83107, tiếp đó rủ Lê Thiện T3, sinh năm 1996 (ở H, huyện H), H bảo với T3 là đi uống nước cùng.

Khi H chở T3 đi đến đoạn đường gần nhà anh B thì gặp N dựng xe máy ở đây. T3 xuống xe thấy đông người nên đi về, lúc này H lấy con dao và vứt ở nơi dựng xe máy rồi đưa chiếc bì xác rắn bên trong còn đựng tuýp sắt cho T3 cầm ra về. H và Nhường nói chuyện lời qua tiếng lại dẫn đến mâu thuẫn, xô sát. N sử dụng con dao loại dao chặt dừa, dài khoảng 70cm, H dùng con dao mang sẵn từ nhà đánh nhau, sau một hồi thấy dao của N dài hơn, H vứt dao về phía ruộng, rồi đi về phía nhà H, lúc này H thấy T3 đang đi bộ phía trước nên H chạy lại giật chiếc bì xác rắn T3 đang cầm và lấy cây gậy sắt quay lại để tấn công N. Do trời mưa, đường trơn, N chạy phía sau H thì bị ngã xuống đường, tay phải của N vẫn cầm con dao, H dùng tuýp sắt đập nhiều cái về phía Nhường. Lúc này T1 từ trong nhà đi ra thì thấy N nằm ở đường, tay vung dao lên, nên đã cầm khúc tre mục chạy lại vụt vào con dao Nhường đang cầm rồi gỡ con dao của N ra và can ngăn H. Hậu quả: anh Đỗ Văn N và Lê Văn H bị thương phải đi điều trị tại Bệnh viện.

* Đối với thương tích của anh Đỗ Văn N (điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh T từ ngày 23/5/2025 đến ngày 31/5/2024):

Tại Biên bản xác định thương tích ban đầu của Đỗ Văn N, ngày 24/5/2024, ghi: 01 vết thương khuỷu tay trái, kích thước khoảng (10 x 03)cm, 01 vết thương ngón 1 (một) bàn tay phải kích thước khoảng (2 x 3)cm, 01 vết thương vùng mông trái kích thước dài khoảng 07cm, 01 vết thương cẳng chân phải kích thước dài khoảng 04cm.

Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã thu thập tài liệu và ra Quyết định trưng cầu giám định số 662/QĐ-ĐCSHS và Quyết định trưng cầu giám định số 663/QĐ-ĐCSHS cùng ngày 28/5/2024, trưng cầu Trung tâm P giám định xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với anh Đỗ Văn N, giám định vật gây thương tích cho anh N.

-Tại Kết luận giám định số 533/KLTTCT-PYTH ngày 21/06/2024 của Trung tâm P kết luận:

  • + Chấn thương khuỷu tay trái gây hậu quả vỡ xương chôm con và ròng rọc đầu dưới xương cánh tay trái: 21%.
  • + Chấn thương khuỷu tay trái gây hậu quả gây mỏm khuỷu trái, đã được điều trị phẫu thuật kết hợp xương: 06%.
  • + Chấn thương bàn tay phải gây hậu quả vỡ xương đầu xa đốt 1 ngón 1 bàn tay phải: 03%.
  • + Sẹo vết thương phần mềm vùng mặt sau khuỷu tay trái, kích thước sẹo trung bình: 02%.
  • + Sẹo vết thương phần mềm vùng 1/4 dưới ngoài mông trái; kích thước sẹo trung bình: 02%.
  • + Sẹo vết thương phần mềm vùng mu ngang mức khe khớp đốt 1-2 ngón bàn tay phải, kích thước sẹo nhỏ: 01%.
  • + Sẹo vết thương phần mềm vùng mặt trước 1/3 giữa cẳng chân phải, kích thước sẹo nhỏ: 01%.
  • + Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đỗ Văn N tại thời điểm giám định là: 32% (Ba mươi hai phần trăm).

- Tại Kết luận giám định số 534/KLVGTT-PYTH ngày 21/06/2024 của Trung tâm P kết luận:

  • + Vết thương khuỷu tay trái: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật có cạnh sắc.
  • + Vết thương ngón 1 bàn tay phải: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật có cạnh sắc.
  • + Vết thương vùng mông trái: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật có cạnh sắc.
  • + Vết thương cẳng chân phải: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật có tày có cạnh.

* Đối với thương tích của anh Lê Văn H (điều trị tại Bệnh viện Đ từ ngày 23/5/2025 đến ngày 29/5/2024):

- Tại Biên bản xác định thương tích ban đầu của Lê Văn H, ngày 23/5/2024, ghi: 01 vết thương vùng mu bàn tay đoạn sát gốc ngón 5, lộ gân, kích thước khoảng 3 x 1cm; 01 vết thương xây xát vùng mu bàn chân phải đoạn gần ngón 1 kích thước khoảng 1 x 1cm.

Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã thu thập tài liệu và ra Quyết định trưng cầu giám định số 660/QĐ-ĐCSHS và Quyết định trưng cầu giám định số 661/QĐ-ĐCSHS cùng ngày 28/5/2024, trưng cầu Trung tâm P giám định xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Lê Văn H, giám định vật gây thương tích cho H.

- Tại Kết luận giám định số 535/KLTTCT-PYTH ngày 21/06/2024 của Trung tâm P kết luận

  • + Sẹo thương phần mềm vùng bờ sau ngoài mu ô út bàn tay phải; kích thước sẹo trung bình: 02%.
  • + Sẹo thương phần mềm vùng mu bàn chân ngang mức bờ trong ngón 1 bàn chân phải; kích thước sẹo nhỏ: 1%.
  • + Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Văn H tại thời điểm giám định là: 3% (Ba phần trăm).

- Tại Kết luận giám định số 536/KLVGTT-PYTH ngày 24/06/2024 của Trung tâm P kết luận:

  • + Vết thương vùng mu bàn tay phải: Do tác động của ngoại lực; phù hợp với sự tác động của vật có cạnh sắc hoặc vật có cạnh nhọn.
  • + Vết thương vùng mu bàn chân phải: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật có tày có cạnh.

Đối với thương tích của Lê Văn H do Đỗ Văn N dùng dao gây nên, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 3%, quá trình điều tra H có đơn đề nghị không khởi tố hình sự đối với hành vi của N, do đó Cơ quan điều tra không xem xét xử lý hình sự và chuyển xử phạt vi phạm hành chính đối với Đỗ Văn N về hành vi Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác.

Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã thu thập tài liệu và ra Quyết định trưng cầu giám định số 764/QĐ-ĐCSHS ngày 13/6/2024, trưng cầu Phòng K Công an tỉnh T giám định kỹ thuật số và điện tử. Tại kết luận giám định số 2696/KL-KTHS ngày 19/07/2024 của Phòng K kết luận: không xác định được tệp video gửi giám định có bị cắt ghép, chỉnh sửa hay không do tệp video này bị nhảy thời gian tại một số thời điểm, không xác định được nguyên nhân. (Trích xuất một số hình ảnh trong các tệp video gửi giám định).

Về trách nhiệm dân sự, anh N yêu cầu bị cáo Lê Văn H phải bồi thường số tiền 80.000.000₫ (Tám mươi triệu đồng) bao gồm tiền viện phí, thuốc men và bồi thường thiệt hại về sức khỏe của anh N, nhưng bị cáo chưa thực hiện việc bồi thường.

Về vật chứng:

- Đối với con dao và tuýp sắt H dùng gây thương thích cho anh Đỗ Văn N, sau khi gây án bị cáo ném con dao dưới ruộng, vứt ống tuýp sắt trên trục đường 510B gần hiện trường. Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã tiến hành truy tìm vật chứng nhưng không thu giữ được.

- Đối với chiếc xe máy HONDA Wave RSX biển số 36B7 – 83107, màu đen, H dùng làm phương tiện đi tìm và gây thương tích cho anh N, qua xác minh chiếc xe thuộc sở hữu hợp pháp của chị Lê Thị N1 (em gái của H), sinh năm 1992, ở thôn T, xã H, huyện H. Việc anh H lấy xe đi tìm và gây thương tích cho anh N, chị N1 không biết. Vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H không thu giữ chiếc xe.

- Đối với các vật chứng gồm: 01(một) gậy tre màu nâu đen hình tròn trụ, đường kính ống tre 04cm, dài 140cm; 01 (một) con dao màu xám có tổng chiều dài 77cm, cán dao bằng ống sắt tròn dài 17cm, đường kính 03cm, bản dao hình chữ nhật dài 60cm, rộng 04cm (đã qua sử dụng), được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Hoằng Hóa, chờ xử lý.

Đối với anh Lê Thiện T3 được H chở đi cùng nhưng không biết mục đích của H đi tìm anh Đỗ Văn N, anh T3 không tham gia và không chủ động đưa ống tuýp sắt cho H để gây thương tích cho anh N. Do đó không có căn cứ để xử lý hình sự đối với anh Lê Thiện T3.

Đối với anh Lê Văn T1 dùng ống tre mục đập vào dao của anh N đang cầm, nhằm mục đích tước con dao từ tay anh N, nhưng không gây thương tích cho anh N, đồng thời can ngăn Lê Văn H không cho H đánh anh N. Do đó không có căn cứ để xử lý hình sự đối với anh T1.

Bản cáo trạng số 31/CTr-VKSHH ngày 24 tháng 02 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa đã truy tố bị cáo Lê Văn H về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hiện quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên và sau khi đánh giá tính chất vụ án, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự ; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21; Điểm a, f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Lê Văn H từ 05 (năm) năm đến 06 (sáu) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/8/2024.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01(một) gậy tre màu nâu đen hình tròn trụ, đường kính ống tre 04cm, dài 140cm; 01 (một) con dao màu xám có tổng chiều dài 77cm, cán dao bằng ống sắt tròn dài 17cm, đường kính 03cm, bản dao hình chữ nhật dài 60cm, rộng 04cm (đã qua sử dụng).

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền 60.000.000₫ (Sáu mươi triệu đồng), bị hại không yêu cầu gì thêm. Do đó, chấp nhận sự thoả thuận giữa bị cáo và bị hại và không xem xét thêm.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng số 31/CT-VKSHH ngày 24/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa đã truy tố, đồng ý với Bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa và lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi thực hiện tội phạm: Tối ngày 23/5/2024, tại thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, do mâu thuẫn cá nhân, bị cáo Lê Văn H đã sử dụng con dao (dạng dao phay màu đen) đã cũ, dài khoảng 40 cm và 01 ống tuýp sắt để chém và vụt vào người anh Đỗ Văn N gây thương tích, làm anh N bị tổn thương cơ thể với tỷ lệ 32% (ba mươi hai phần trăm) sức khỏe.

Hành vi dùng dao và ống tuýp sắt của bị cáo Lê Văn H gây thương tích cho bị hại đã xâm phạm đến sức khoẻ của bị hại là khách thể được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo thực hiện hành vi trên với lỗi cố ý. Bản thân bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Do đó bị cáo đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự như cáo trạng của viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Về các căn cứ quyết định hình phạt đối với bị cáo:

Hội đồng xét xử thấy rằng:

- Xét tính chất của vụ án thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xuất phát từ mâu thuẫn trong cuộc sống mà không kiềm chế được dẫn đến việc bị cáo gây thương tích cho người khác. Hành vi của bị cáo không chỉ trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của bị hại mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị án tại địa phương. Do vậy cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc đối với hành vi phạm tội của bị cáo.

- Xét về tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

+ Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;

+ Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có bố đẻ là người có công với cách mạng, là thương binh và được Nhà nước tăng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước; bị cáo đang bị tạm giam nên đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bị hại và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để lượng giảm cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.

Từ các căn cứ quyết định hình phạt như nêu trên, cần áp dụng hình phạt tù và cách ly bị cáo khỏi cộng đồng xã hội một thời gian hợp lý mới đủ tác dụng trừng trị bị cáo và giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật, tuân theo các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới và phòng ngừa chung.

[4]. Về bồi thường dân sự: Trước khi mở phiên tòa, bị cáo hiện bị tạm giam nên đã động viên gia đình bồi thường toàn bộ số tiền là 60.000.000₫ (Sáu mươi triệu đồng) cho bị hại, bị hại không yêu cầu gì thêm. Do đó, chấp nhận sự tự nguyện của bị cáo và bị hại về phần dân sự.

[5]. Về vật chứng:

- Đối với con dao và tuýp sắt bị cáo H dùng gây thương thích cho anh Đỗ Văn N, sau khi gây án bị cáo ném con dao dưới ruộng, vứt ống tuýp sắt trên trục đường 510B gần hiện trường. Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã tiến hành truy tìm vật chứng nhưng không thu giữ được nên không xem xét giải quyết.

- Đối với chiếc xe máy HONDA Wave RSX biển số 36B7 – 83107, màu đen, bị cáo H dùng làm phương tiện đi tìm và gây thương tích cho anh N, qua xác minh chiếc xe thuộc sở hữu hợp pháp của chị Lê Thị N1 (em gái của bị cáo H). Việc bị cáo H lấy xe đi tìm và gây thương tích cho anh N, chị N1 không biết. Vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H không thu giữ chiếc xe nên không xem xét giải quyết.

- Đối với các vật chứng gồm:

  • + 01 (một) gậy tre màu nâu đen hình tròn trụ, đường kính ống tre 04cm, dài 140cm là dụng cụ anh T1 dùng đập vào dao của anh N đang cầm, nhằm mục đích tước con từ tay anh N, do không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
  • + 01 (một) con dao màu xám có tổng chiều dài 77cm, cán dao bằng ống sắt tròn dài 17cm, đường kính 03cm, bản dao hình chữ nhật dài 60cm, rộng 04cm (đã qua sử dụng), trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, anh N khai sử dụng để gây thương tích cho bị cáo H và không đề nghị nhận lại nên tịch thu tiêu hủy.

[6]. Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21; điểm a, f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn H: 05 (năm) năm 09 (chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/8/2024.

Về Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01(một) gậy tre màu nâu đen hình tròn trụ, đường kính ống tre 04cm, dài 140cm; 01 (một) con dao màu xám có tổng chiều dài 77cm, cán dao bằng ống sắt tròn dài 17cm, đường kính 03cm, bản dao hình chữ nhật dài 60cm, rộng 04cm (đã qua sử dụng).

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng số 37/BBGN ngày 26/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hoằng Hóa).

Về án phí: Buộc bị cáo Lê Văn H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND huyện H;
  • - Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh Thanh Hóa;
  • - Cơ quan THAHS – Công an tỉnh Thanh Hóa;
  • - Chi cục THADS huyện H;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Phạm Bảo Yến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2025/HS-ST ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH THANH HÓA về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 28/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger