Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN D

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số:28/2025/HS-ST

Ngày 09-6-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN D, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Duyến

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Thanh Giản

Ông Đặng Kim Dũng

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân quận D, thành phố Hải Phòng

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận D tham gia phiên tòa: Ông Lê Kim Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận D, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 25/2025/TLST- HS ngày 27 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 220/2025/QĐXXST- HS ngày 28 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Sỹ P, sinh ngày 27 tháng 6 năm 2001, tại Hải Phòng; nơi đăng ký thường trú: Thôn H, K, K, Hải Phòng; nơi ở: Thôn C, K, K, Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Sỹ H và bà Phạm Thị H1; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giam từ ngày 16/9/2024 đến ngày 08/10/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn, áp dụng biện pháp bảo lĩnh; có mặt.

- Bị hại: Công ty TNHH Một thành viên C – Chi nhánh B; địa chỉ trụ sở chính: Đường L, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Người đại diện theo pháp luật: Ông Lưu Hy V – Giám đốc, vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH C1; địa chỉ: Số B M, H, D, Hải Phòng. Người đại diện theo pháp luật: Ông Phùng Quốc T – Giám đốc, vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Những người làm chứng: Ông Vũ Văn S, vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt), Nguyễn Sĩ Tài L; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Công ty TNHH Một thành viên C (sau đây viết tắt là Công ty J); địa chỉ trụ sở chính: Đường L, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh có ký kết Hợp đồng nhượng quyền thương mại số 1210/2023/JT-TST ngày 20/10/2023 với Công ty TNHH C1 (sau đây viết tắt là Công ty C1) có địa chỉ tại số nhà B Đường M, tổ dân phố P, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng, theo đó bên chuyển quyền thương mại là Công ty J và bên nhận nhượng quyền là Công ty C1. Ngày 07/11/2023, Nguyễn Sỹ P và Công ty C1 có ký Hợp đồng thử việc, Hợp đồng hợp tác và Hợp đồng trách nhiệm. Theo nội dung của hợp đồng, “Nguyễn Sỹ P có trách nhiệm nhận hàng hóa, bưu gửi từ Công ty C1 chuyển tới địa chỉ người nhận hoặc ngược lại nhận hàng hóa, bưu gửi từ người gửi để chuyển tới địa chỉ của Công ty C1, nhận cước phí vận chuyển hoặc tiền hàng thu hộ (cod) sau đó nộp lại cho Công ty C1 trước khi kết thúc chuyển phát hàng trong ngày”. Để thực hiện quyền hạn, chức năng, nhiệm vụ được giao, P cũng như những nhân viên giao nhận hàng khác đều được Công ty C1 cung cấp phần mềm ứng dụng nội bộ “JT” và được cài trên điện thoại di động cá nhân của từng nhân viên. (Tài khoản của P được đăng ký bằng số điện thoại của P và mật khẩu do P tự lập). Phần mềm này có chức năng theo dõi quá trình di chuyển của đơn hàng, trạng thái đơn hàng, quản lý việc chủ tài khoản nhận đơn hàng, liên lạc với khách nhận hàng. Trong quá trình làm việc, nhân viên giao nhận hàng có trách nhiệm sử dụng tài khoản được cấp để cập nhật trạng thái đơn hàng “Giao hàng thành công” hoặc lý do không giao được hàng (“Không liên hệ được với khách” “ sai thông tin”, “khách hẹn ngày nhận”) để Công ty C1 đối chiếu hàng ngày các đơn hàng được giao cho nhân viên và kiểm tra các trạng thái đơn hàng được giao để thu tiền từ nhân viên giao nhận hàng. Theo quy trình vào lúc 07 giờ 30 phút hàng ngày, P cũng như các nhân viên đến Công ty C1 để nhận hàng theo tuyến phát, sau khi kiểm tra số lượng đơn hàng và đúng tuyến phát nhân viên cập nhật các đơn hàng vào phần mềm “JT”. Sau khi xác nhận đúng, đầy đủ số hàng nhân viên sử dụng xe mô tô của mình để đi giao hàng cho khách và nhận tiền của khách hàng mang về trả cho Công ty. Đến cuối ngày (khoảng từ 17 giờ đến 18 giờ), nhân viên thao tác trên phần mềm “JT” đối với các đơn đã giao được thì cập nhập “Giao hàng thành công”, nếu những đơn hàng chưa giao được thì ghi lý do chưa giao được trên phần mềm “JT” sau đó nhân viên về Công ty C1 nộp lại số tiền hàng đã giao được, và bàn giao lại các đơn hàng chưa giao được. Việc giao tiền có thể nộp trực tiếp cho Văn thư hoặc qua chuyển khoản đến tài khoản của Công ty C1. Sáng ngày làm việc tiếp theo, Công ty C1 sẽ đối chiếu với số hàng đã giao và số tiền nhân viên giao hàng đã nộp, việc thừa thiếu tiền phải thực hiện xong trước 09 giờ sáng hàng ngày.

Quá trình giao hàng P được Công ty C1 giao các đơn hàng với tổng trị giá tiền là 40.558.084 đồng để đi giao cho khách hàng. P sử dụng số điện thoại cá nhân để liên lạc và trực tiếp giao hàng đến người nhận và đã thu đủ số tiền trên. Tuy nhiên P chỉ nộp về Công ty C1 số tiền 8.158.084 đồng, số tiền còn lại 32.400.000 đồng P không giao nộp cho Công ty C1 mà nảy sinh ý định chiếm đoạt để chi tiêu cá nhân bằng cách cập nhật các đơn hàng (đã giao được trên thực tế) vào trạng thái “Không liên hệ được với khách”, “sai thông tin”, “khách hẹn ngày nhận”. Sau khi Công ty C1 liên hệ với các khách hàng và các khách hàng đều xác nhận đã nhận được hàng và thanh toán tiền đầy đủ cho P. Công ty sợ bị Công ty J phạt vi phạm theo Hợp đồng nên Công ty C1 đã tạm ứng cho P vay số tiền 30.000.000 đồng để chuyển trả cho Công ty J. Ngày 14/01/2024 Nguyễn Sỹ P nghỉ việc và không trả cho Công ty C1 số tiền COD còn nợ 32.400.000 đồng nên Công ty C1 đã làm đơn trình báo Cơ quan Công an.

Tại Cơ quan điều tra, bị can Nguyễn Sỹ P khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Về vật chứng vụ án: Số tiền 32.400.000 đồng Nguyễn Sỹ P đã chiếm đoạt của Công ty C1, P đã chi tiêu hết nên không thu hồi được. Về dân sự: Nguyễn Sỹ P hoàn trả cho Công ty C1 số tiền 32.400.000 đồng, Công ty C1 có đơn xin miễn giảm trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Sỹ P và không còn yêu cầu gì khác về phần dân sự đối với bị cáo.

Tại Cáo trạng số 31/CT-VKS ngày 22/5/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân quận D, thành phố Hải Phòng đã truy tố Nguyễn Sỹ P về tội "Tham ô tài sản", quy định tại khoản 1 Điều 353 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Sỹ P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Đại diện bị hại, đại diện người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có đơn xin xét xử vắng mặt, giữ nguyên nội dung khác đã trình bày tại Cơ quan điều tra, không còn yêu cầu gì về phần dân sự và đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Toàn bộ những người làm chứng vắng mặt nên không có lời trình bày tại phiên tòa.

Đại diện Viện Kiểm sát trình bày lời luận tội: Sau khi phân tích, đánh giá tính chất vụ án, tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo, về cơ bản đã giữ nguyên quan điểm truy tố theo Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 353; Điều 65; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Nguyễn Sỹ P phạm tội “Tham ô tài sản” và xử phạt bị cáo mức án từ 30 đến 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng, đề nghị không áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về dân sự, đã khắc phục đầy đủ, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không còn đề nghị gì khác về phần dân sự nên đề nghị không xem xét. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của bị cáo tại phiên tòa: Hoàn toàn thống nhất với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo không tranh luận gì thêm, đồng thời tỏ ra ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị cáo xin được cải tạo ngoài xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận D, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận D thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của đại diện bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và những người làm chứng tại phiên tòa. Tuy nhiên họ đã có lời khai trong quá trình điều tra, những lời khai này đã được Cơ quan điều tra thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đồng thời họ cũng đã có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết vắng mặt họ theo quy định tại khoản 1 Điều 292 và khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Về nội dung:

[3] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy đã có đủ cơ sở kết luận như sau: Nguyễn Sỹ P lợi dụng nhiệm vụ, quyền hạn được giao từ Công ty C1, có địa chỉ tại số B Đường M, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng, trong khoảng thời gian từ ngày 13/12/2023 đến ngày 03/01/2024, Nguyễn Sỹ P đã chiếm đoạt của Công ty C1 tổng số tiền COD là 32.400.000 đồng để chi tiêu cá nhân, không nộp lại cho Công ty theo quy định. Do vậy hành vi của bị cáo Nguyễn Sỹ P cấu thành tội “Tham ô tài sản” theo khoản 1 Điều 353 Bộ luật Hình sự, nội dung điều luật quy định: “1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm..”. Và như vậy Cáo trạng số 31/CT-VKS ngày 22/5/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân quận D, thành phố Hải Phòng đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Sỹ P là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Sỹ P không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đã tự nguyện khắc phục toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt của Công ty C1. Công ty C1 đã có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Bị cáo có bà nội là Đỗ Thị L1 và ông nội là Nguyễn Sỹ S1 đều được tặng Kỷ niệm chương thanh niên xung phong, có ông ngoại là bộ đội liệt sĩ Phạm Văn P1. Bản thân bị cáo là người có thời gian tham gia quân ngũ, hoàn thành nghĩa vụ quân sự và được tặng danh hiệu Chiến sĩ tiên tiến. Do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt.

[6] Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, trước đó bị cáo chưa lần nào vi phạm pháp luật, bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, biết ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại theo yêu cầu của bị hại.

[7] Về hình phạt đối với bị cáo: Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến quyền sở hữu của Công ty là khách thể được pháp luật bảo vệ, gây khó khăn cho Công ty trong hoạt động kinh doanh, phát triển và còn gây mất trật tự trị an xã hội. Mặc dù vậy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội, cho bị cáo hưởng án treo, tạo điều kiện cho bị cáo tự lao động nuôi dưỡng bản thân, sửa chữa lỗi lầm và trở thành công dân có ích cho xã hội là phù hợp với hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ- HĐTP ngày 15/4/2022 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự về cho hưởng án treo. Và xử phạt bị cáo ở trên mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 353 Bộ luật Hình sự như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận D tại phiên tòa cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung, đồng thời vừa thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, vừa thể hiện tính nhân đạo, chính sách khoan hồng trong nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội được quy định tại điểm d, đ, khoản 1 Điều 3 của Bộ luật Hình sự.

[8] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị lớn nên không áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[9] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Quá trình điều tra không thu giữ được số tiền 32.400.000 đồng mà bị cáo đã chiếm đoạt của Công ty, tuy nhiên sau đó bị cáo đã khắc phục, bồi thường đầy đủ cho Công ty, Công ty không còn yêu cầu gì khác về phần dân sự đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[10] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án theo Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về căn cứ áp dụng pháp luật, tội danh và mức hình phạt.

    Căn cứ vào khoản 1 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Nguyễn Sỹ P phạm tội “Tham ô tài sản” và xử phạt bị cáo 30 (ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh đối với bị cáo Nguyễn Sỹ P, giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện K, thành phố Hải Phòng để thực hiện việc giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Nguyễn Sỹ P có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã K trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.

    Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự:

    Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.

    Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.

    Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật Thi hành án hình sự.

    Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách.

  2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Sỹ P.
  3. Về dân sự: Đã bồi thường xong nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Sỹ P phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo Nguyễn Sỹ P có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hải Phòng;
  • - VKSND TP. Hải Phòng;
  • - PV 06; PC10 – CAHP;
  • - Sở Tư pháp TP. Hải Phòng;
  • - VKSND quận D;
  • - CQCSĐT - CAHP
  • - CQ THAHS- CAHP;
  • - Chi cục THADS D;
  • - Bị cáo; bị hại; người liên quan;
  • - Lưu: Hồ sơ, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Duyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2025/HS-ST ngày 09/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN D, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự (tham ô tài sản)

  • Số bản án: 28/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tham ô tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN D, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 2025.06.09. HSST. BA28 Nguyễn Sỹ P - Tham ô tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger