Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SẦM SƠN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2025/HS-ST

Ngày 04/4/2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN - TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thuyên.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thơm.

Ông Phạm Văn Hay.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Khánh Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố sầm sơn tham gia phiên tòa:

Ông Lê Văn Toàn - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2025/TLST- HS ngày 28 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2025/QĐXXST- HS ngày 12 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 14/2025/QĐHPT- HSST ngày 26 tháng 3 năm 2025, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Thanh T - Sinh năm 1990.

Căn cước công dân số: 03809013312, do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội – Bộ C1, cấp ngày 04/5/2021.

Nơi ĐKNKTT: Thôn Đ, xã Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Bố: Nguyễn Trọng T1; Mẹ: Nguyễn Thị T2. Bố, mẹ bị cáo sinh được 4 người con, T là con thứ 4; vợ: Bùi Thị H, có 3 con, con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 28/10/2013 bị TAND tỉnh Thanh Hóa xử phạt 30 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 04/02/2016 chấp hành xong hình phạt tù.

Tạm giam: Ngày 05/12/2024 tại Phân trại tạm giam khu vực S, thuộc phòng PC11 Công an tỉnh T. Có mặt tại phiên tòa.

2. Phạm Văn B - Sinh năm 1991.

Căn cước công dân số: [...], nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội – Bộ C1.

ĐKNKTT: Thôn G, xã Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Bố: Phạm Văn T3 (Đã chết); Mẹ: Nguyễn Thị T2. Bố, mẹ bị cáo sinh được 2 người con, B là con đầu; vợ: Hoàng Thị L, chưa có con. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo hiện nay tại ngoại có lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

3. Hoàng Quốc T4 - Sinh năm 2001.

Căn cước công dân số: 03821007772, do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội – Bộ C1, cấp ngày 05/5/2021.

Nơi ĐKNKTT: Thôn M, xã Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Bố: Hoàng Quốc T5; Mẹ: Nguyễn Thị T6. Bố, mẹ bị cáo sinh được 2 người con, T4 là con thứ 2; vợ: Nguyễn Thị D, có 1 con sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo hiện nay tại ngoại có lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bà Lê Thị L1 – sinh năm 1969. Có mặt.

Địa chỉ: Phố E, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị O, sn 1968.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

  1. Bà Trịnh Thị N – sinh năm 1972. Có mặt.
  2. Địa chỉ: Tổ dân phố K, phường Q thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.

  3. Ông Nguyễn Trọng T1 – sinh năm 1952. Có mặt.
  4. Chị Bùi Thị Huyền T7 – sinh năm 1991. Có mặt.
  5. Chị Tô Thị D1 – sinh năm 1988. Vắng mặt.
  6. Cùng địa chỉ: Thôn Đà Trung, xã Quảng Minh, thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa

  7. Ông Nguyễn Hữu C – sinh năm 1963. Vắng mặt.
  8. Địa chỉ: Phố H, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

  9. Ông Phạm Văn H1– sinh năm 1987. Vắng mặt.
  10. Địa chỉ: Phố F, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

  11. Anh Lê Văn T8 - sinh năm 1992. Vắng mặt.
  12. Địa chỉ: Thôn T, xã Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.

  13. Anh Lê Văn K – sinh năm 1993. Vắng mặt.
  14. Địa chỉ: Tổ dân phố Đồn Trại, phường Quảng Thọ, thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa

  15. Lê Thị N1 - sinh năm 1982. Vắng mặt.
  16. Nguyễn Thị B1 – sinh năm 1983. Vắng mặt.
  17. Cùng địa chỉ: Thôn M, xã Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 11 năm 2023, do cần tiền trả nợ và chi tiêu cá nhân và đánh bạc dưới hình thức mua số lô. Nguyễn Thanh T, sinh năm 1990 ở thôn Đ, xã Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa biết bà Lê Thị L1, sinh năm 1969 ở phố E, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa đang có nhu cầu mua đất nên T nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt của bà L1. Gia đình T có thửa đất 1102, tờ bản đồ số 11, diện tích 580m², đất ở 130m², đất trồng cây lâu năm 450m², đứng tên ông Nguyễn Trọng T1, là bố của T. Ông T1 đã tách bán 02 lô đất, trong đó bán 01 lô với diện tích 120m² cho vợ chồng ông Dư Công T9, sinh năm 1988 ở phường Q, thành phố S, được cấp giấy CNQSDĐ số DB 653688 ngày 06/6/2021 lô thuộc thửa số 1350 tờ bản đồ số 11 mang tên ông Dư Công T9 và bà Nguyễn Thị M. Đến ngày 09/6/2022, vợ chồng ông Dư Công Trung chuyển N2 lô đất này cho vợ chồng bà Trịnh Thị N, sinh năm 1972 ở TDP K, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa, hiện đang thuộc quyền sử dụng của gia đình bà Trịnh Thị N.

Để tạo niềm tin T nói với bà Lê Thị L1 lô đất của gia đình bà N là đất của gia đình T đang cần bán và đưa bản photo GCNQSDĐ đứng tên ông T1 từ năm 1917, thời điểm này chưa có biến động về chuyển quyền sử dụng lô đất nêu trên cho bà L1 xem. Sau đó T chọn thời điểm bố mẹ không có nhà đã hẹn bà L1 đến xem đất và chỉ vào lô đất của bà N sát sân nhà mình để bà L1 xem và nói là bố mẹ mình đã đồng ý và ủy quyền cho T bán 120m² với giá 500.000.000đồng, tin tưởng là thật nên bà L1 đã đồng ý mua.

Từ ngày 21 đến ngày 25/12/2023 bà L1 cùng với ông Nguyễn Hữu C, sinh năm 1963, ở phố H, phường Q, thành phố T đưa tiền đặt cọc trước 02 lần mỗi lần 50.000.000đồng cho Nguyễn Thanh T và T viết giấy nhận tiền tổng là 100.000.000đồng và hẹn 20 ngày sau làm thủ tục sang tên cho bà L1, số tiền này T đã sử dụng để trả nợ và chi tiêu cá nhân hết.

Đến ngày 15/02/2024 đã tiêu hết tiền và có người hồi thúc trả nợ nên Nguyễn Thanh T tiếp tục nói dối bà L1 là đang cần thêm 40.000.000 đồng nữa để lấy sổ đỏ từ ngân hàng về và đang nhờ người tên “H2” làm thủ tục nâng hạn mức đất ở, bà L1 đồng ý nên T đã đưa số tài khoản 198361156789 V của người làm dịch vụ chuyển tiền là chị Nguyễn Thị B1, sinh năm 1983 ở thôn M, xã Q, thành phố S để bà L1 chuyển số tiền đi vay 40.000.000 đồng rồi đến nhà chị B1 lấy tiền và nói là đi vay, số tiền này T trả nợ và chi tiêu cá nhân hết.

Đến ngày 22/02/2024 thấy bà L1 đang tin tưởng nên T tiếp tục nói bà L1 chuyển tiếp 24.000.000 đồng vào tài khoản của chị B1 để bàn giao đất và bà L1 tiếp tục nhờ tài khoản 198361156789 V của ông Nguyễn Hữu C chuyển số tiền này vào tài khoản của chị B1, sau đó T lấy và chi tiêu cá nhân hết.

Do bà L1 hồi thúc giao đất, Nguyễn Thanh T đã dẫn bà L1 đến trụ sở UBND thành phố S để gặp người tên H2 nhưng bảo đứng ngoài đợi để T một mình vào và đứng trốn một lúc sau đó T quay ra và nói là không gặp “H2”. Để trì hoãn và không cho bà L1 nghi ngờ T viết 01 tờ A4 ghi là “Phiếu tiếp nhận và trả lời kết quả đăng ký, cấp giấy chứng nhận” bên dưới mục nhận hồ sơ là Nguyễn Đình H2, người giao hồ sơ là Nguyễn Trọng T1, hai mục này T đều tự ký để đưa tờ giấy cho bà L1 xem và nói là chờ một thời gian nữa. Sau đó, T lại trì hoãn bằng cách nói dối là đang nhờ người viết tên “H2” làm GCNQSD Đ để bà L1 không nghi ngờ T đã sử dụng 02 số điện thoại là: 0764.437.xxx và số 0978206737 giả giọng xưng tên là “H2” và “H1” nói chuyện với bà L1 về nội dung đang nhận làm thủ tục giấy tờ đất.

Đến tháng 4/2024 bà L1 phát hiện bị lừa nên đã yêu cầu T trả tiền nhưng T không trả nên ngày 02/10/2024 bà L1 đã đến Công an thành phố S trình báo. Nhận được nguồn tin Cơ quan CSĐT Công an thành phố S đã tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ để xử lý theo quy định.

Quá trình điều tra, ngoài hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nêu trên, Cơ quan CSĐT Công an thành phố S còn phát hiện Nguyên Thanh T10 sử dụng số điện thoại 0971.649.xxx gắn vào điện thoại di động Realme C11 màu đen để đánh bạc dưới hình thức mua, bán số lô với các đối tượng Phạm Văn B, sinh năm 1991, ở phố G, phường Q, thành phố T với Hoàng Quốc T4, sinh năm 2001 ở thôn M, xã Q, thành phố S. Các đối tượng tự thống nhất với nhau 01 điểm lô = 22.500đồng, nếu thắng thì một điểm lô được 80.000đồng, nếu thua thì người mua mất toàn bộ số tiền đã mua số lô, để phân định thắng thua các đối tượng sử dụng kết quả sổ số kiến thiết miền B mở thưởng cùng ngày và quy ước: Lấy 02 số cuối của tất cả các giải là kết quả là kết quả số lô, 1 điểm lô trúng được 80.000đồng. Người mua số lô tự so sánh với kết quả sổ số mở cùng ngày, nếu có số lô đã mua trùng với 02 số cuối kết quả của các giải xổ số là trúng lô. Việc thanh toán tiền cho nhau được thực hiện khi có kết quả, đưa tiền trực tiếp hoặc chuyển khoản.

Hành vi đánh bạc của các đối tượng cụ thể như sau:

  1. Nguyễn Thanh T đánh bạc với Phạm văn B, sinh năm 1991 ở phố G, phường Q, thành phố T.
  2. Ngày 30/6/2023, Nguyễn Thanh T sử dụng điện thoại cóp số thuê bao 0971. 649.518 nhắn tin đến số điện thoại 0962.344.xxx để đánh bạc với Phạm Văn B, mua 1 số lô 53x250 điểm x22.500đồng/điểm = 5.625.000đồng. Sau khi có kết quả số số kiến thiết miền B. T không trúng và đã thanh toán cho B. Như vậy, tổng số tiền đánh bạc giữa T và B là: 5.625.000đồng, số tiền trên B chưa giao nộp.

  3. Nguyễn Thanh T đánh bạc với Hoàng Quốc T4, sinh năm 2001 tại thôn M, xã Q, thành phố S. Cụ thể các lần sau:
    • Ngày 10/9/2023, T sử dụng điện thoại có số thuê bao 0971.649.518 nhắn tin đến số điện thoại 0899.626.xxx của T4 để mua 01 số lô 50x50điểm x 22.500đồng/điểm = 1.125.000đồng. Sau khi có kết quả xổ số kiến thiết Miền B2, T không trúng đã thanh toán cho T4, số tiền trên T4 chưa giao nộp.
    • Ngày 11/9/2023, T sử dụng điện thoại có số thuê bao 0971.649.518 nhắn tin đến số điện thoại 0899.626.xxx của T4 để mua một số lô 50 x 50điểm x 22.500đồng/điểm = 1.125.000đồng. Sau khi có kết qủa kiến thiết Miền B, T không trúng đã thanh toán cho T4. Số tiền trên T4 chưa giao nộp.
    • Ngày 12/9/2023, T sử dụng điện thoại có số thuê bao 0971.649.518 nhắn tin đến số điện thoại 0899.626.xxx của T4 để mua lô 50 x 50điểm x 22.500đồng/điểm = 1.125.000đồng. Sau khi có kết qủa kiến thiết Miền B, T không trúng đã thanh toán cho T4. Số tiền trên T4 chưa giao nộp.
    • Ngày 14/9/2023, T sử dụng điện thoại có số thuê bao 0971.649.518 nhắn tin đến số điện thoại 0899.626.xxx của T4 để mua lô 20 x 80điểm x 22.500đồng/điểm = 1.800.000đồng. Sau khi có kết qủa kiến thiết Miền B, T không trúng và đã thanh toán cho T4. Số tiền trên T4 chưa giao nộp.
    • Ngày 15/9/2023, T sử dụng điện thoại có số thuê bao 0971.649.518 nhắn tin đến số điện thoại 0899.626.xxx của T4 để mua lô 20 x 80điểm x 22.500đồng/điểm = 1.800.000đồng. Sau khi có kết qủa kiến thiết Miền B, T trúng 80 điểm lô x 80.000đồng/điểm = 6.400.000đồng. Như vậy, tổng số tiền đánh bạc giữa T và T4 là: 8.200.000 đồng. Các bên đã thanh tóa cho nhau và số tiền trên T và T4 chưa nộp.
    • Ngày 16/9/2023, T sử dụng điện thoại có số thuê bao 0971.649.518 nhắn tin đến số điện thoại 0899.626.xxx của T4 để mua lô 50 x 50điểm x 22.500đồng/điểm = 1.125.000đồng. Sau khi có kết qủa kiến thiết Miền B, T không trúng đã thanh toán cho T4. Số tiền trên T4 chưa giao nộp.
    • Ngày 17/9/2023, T sử dụng điện thoại có số thuê bao 0971.649.518 nhắn tin đến số điện thoại 0899.626.xxx của T4 để mua lô 20 x 80điểm x 22.500đồng/điểm = 1.800.000đồng. Sau khi có kết qủa kiến thiết Miền B, T không trúng đã thanh toán cho T4. Số tiền trên T4 chưa giao nộp.
  4. Nguyễn Thanh T đánh bạc với Nguyễn Thị O, sinh năm 1968 ở cùng thôn Đ, xã Q, thành phố S.
  5. Ngày 31/10/2023, T sử dụng điện thoại có số thuê bao 0971.649.518 nhắn tin đến số điện thoại 0345.384.xxx của Nguyễn Thị O để mua 02 số lô 80, 10 x 100điểm/số x 22.500đồng/điểm = 4.400.000đồng. Sau khi có kết qủa xổ số kiến thiết Miền B2, T không trúng và đã thanh toán cho O. Số tiền trên O chưa giao nộp.

- Ngày 03/10/2024, Nguyễn Thanh T, Hoàng Quốc T4 và Phạm Văn B đã đến Công an thành phố S đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đồng thời T giao nộp 01 điện thoại nhãn hiệu Realme C11 màu đen gắn 02 sim số 0971.649.518 và số 0899633607; T4 giao nộp 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone Xsmax màu vàng gắn sim số 0962.344.989, cùng ngày Nguyễn Thị O đến Công an thành phố S giao nộp 01 điện thoại nhãn hiệu FONROXF2163 màu xanh gắn sim số 0345.384.456.

Tiến hành khám xét chỗ ở của Nguyễn Thanh T, tại thôn Đ, xã Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa. Cơ quan điều tra thu giữ trong phòng ngủ của T 01 sim điện thoại số 0764.437.xxx và 01 tờ giấy A4 ghi “Phiếu tiếp nhận và trả kết quả đăng ký, cấp giấy chứng nhận, tất cả được niêm phong theo quy định.

Tại Bản kết luận giám định số 491/KL-KTHS ngày 01/11/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: Chữ ký dạng chữ viết “Trọng”, chữ viết đứng tên Nguyễn Thanh T tại “Giấy ứng tiền cọc đất” và “Giấy hẹn trả nợ” là do Nguyễn Thanh T viết, ký ra.

Tại Bản kết luận giám định số: 225/K1-KTHS ngày 31/12/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: Chữ viết tại các mục phần nội dung: Chữ ký dạng chữ viết “H2”, chữ viết họ tên “Nguyễn Đình H2” dưới mục “Người nộp hồ sơ”: chữ ký dạng chữ viết “Tâm”, chữ viết họ tên “Nguyễn Trọng T1” dưới mục “Người nhận kết quả” ở “Phiếu tiếp nhận và trả kết quả đăng ký, cấp giấy chứng nhận đề ngày 02/01/2024 là do Nguyễn Thanh T viết, ký ra.

Tại Bản kết luận giám định số 4534/KL-KTHS ngày 27/11/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: Tìm thấy dữ liệu trên điện thoại di động Realme C11 màu xám đen, điện thoại di động Iphone xsmax màu vàng và điện thoại di động Iphon 11 Promax màu trắng, có phụ lục kèm theo.

Qua làm việc, kiểm tra phụ lục không phát hiện nội dung có liên quan đến hành vi, vi phạm pháp luật trong dữ liệu tìm thấy được trên 01 điện thoại di động Iphone xsmax màu vàng của Phạm Văn B và 01 điện thoại di động Iphone 11 promax màu trắng của Hoàng Quốc T4, trong dữ liệu tìm thấy được trên điện thoại di động Realme C11 màu đen của Nguyễn Thanh T phát hiện dữ liệu tin nhắn SMS liên quan đến hành vi đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề vào các ngày 10,11,12,14,15,16,17 tháng 9 năm 2023 và ngày 30/6/2023, không tìm thấy dữ liệu cuộc gọi, tin nhắn trong 01 điện thoại di động FONROX màu xanh đen của Nguyễn Thị O.

Về vật chứng của vụ án: 01 điện thoại di động Realme C11 màu xám đen của Nguyễn Thanh T; 01 điện thoại di động Iphone Xsmax màu vàng của Phạm Văn B; 01 điện thoại di động Iphone 11 Pro max màu trắng của Hoàng Quốc T4; 01 điện thopại di động FONROX màu xanh đen của Nguyễn Thị O được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự để chờ xét xử.

Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị can T đã bồi thường cho bà L1 số tiền 50.000.000đồng, bà có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Nguyễn Thanh T.

Trong vụ án này: Ngày 31/10/2023 Nguyễn Thị O đã bán số lô cho Nguyễn Thanh T và các ngày 10,11,12,14,16,17 tháng 9 năm 2023 Hoàng Quốc T4 đã bán số lô cho Nguyễn Thanh T nhưng số tiền dưới 5.000.000đồng, các đối tượng chưa có tiền án, tiền sự nên cơ quan điều tra không tuy cứu trách nhiệm hình sự hành vi nêu trên đã hết thời hiệu nên Công an thành phố S không xử lý hành chính.

Đối với Nguyễn Thị B1 làm dịch vụ chuyển, nhận tiền qua tài khoản cho Nguyễn Thanh T nhưng không biết rõ nguồn gốc số tiền nên cơ quan điều tra không xử lý, ngoài ra Nguyễn Thanh T còn khai là đã nhờ B1 ghi hộ số lô nhưng không nhớ chính xác thời điểm, số lô nào và cũng không có tài liệu nào thể hiện. Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất nhưng B1 không thừa nhận nên không có căn cứ xử lý.

Đối với Lê Thị N1, sinh năm 1982, Tô Thị D1, sinh năm 1988; Lê Văn T8, sinh năm 1993 ở phường Q, thành phố S, Hoàng Quốc T4, Nguyễn Thị O khai báo là đã đánh bạc dưới hình thức mua, bán số lô nhưng các đối tượng không thừa nhận và không có tài liệu nào chứng minh. Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất nhưng N1, D1, T8, K không thừa nhận nên không có căn cứ xử lý.

Đối với Phạm Văn H1, sinh năm 1987 ở phố F, phường Q, thành phố T là chủ thuê bao số 0978.206.737. T đã mượn để giả giọng nói với bà L1 về việc làm hồ sơ đất nhưng H1 không biết T lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nên cơ quan điều tra không xử lý.

Đối với nguồn gốc sim số 0764437815 thu giữ khi khám xét tại nhà T là do T mua sim rác để giả giọng và tự Xưng là “H2” để gọi cho bà L1. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác định chủ số sim là anh Lê Đức N3, sinh năm 1995 ở xã H, thành phố B, tỉnh Đắc Lắk, anh N3 khai báo là không sử dụng số này, không biết T là ai nên không xử lý.

Cáo trạng số: 25/CTr-VKS-HS ngày 27 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa truy tố đối với các bị cáo: Nguyễn Thanh T, về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự. Ngoài ra Nguyễn Thanh T còn bị truy tố cùng với Hoàng Quốc T4 và Phạm Văn B, về tội: “Đánh bạc”, theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh và điều luật áp dụng đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng đối với từng bị cáo như sau:

- Nguyễn Thanh T, áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174“Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; khoản 1 Điều 321 và tội: “Đánh bạc”; Điều 38; Điều 58; Điều 55; Điều 17; điểm b điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; xử phạt: Nguyễn Thanh T, mức án từ 36 tháng đến 42 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và từ 9 đến 12 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội từ 45 đến 54 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 05/12/2024;

- Hoàng Quốc T4 và Phạm Văn B, áp dụng khoản 1 Điều 231; Điều 65; Điều 58; Điều 17; điểm i điểm s khoản 1 (Hoàng Quốc T4 thêm khoản 2), Điều 51 Bộ luật hình sự, về tội “Đánh bạc”; xử phạt: Hoàng Quốc T4 và Phạm Văn B, mỗi bị cáo mức án từ 9 tháng đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Về xử lý vật chứng: - Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme C11 màu xám đen của bị cáo T; 01 điện thoại di động Iphone Xsmax màu vàng của bị cáo B; 01 điện thoại di động Iphone 11 Pro max màu trắng của bị cáo T4;

- Trả lại 01 điện thopại di động FONROX màu xanh đen cho Nguyễn Thị O, là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

- Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo T trả lại cho bà L1 số tiền 50.000.000đồng. Số tiền còn lại là 114.000.000 đồng, bà L1 yêu cầu T phải có trách nhiệm trả lại cho bà L1. Quá trình điều tra bà L1 có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo T.

- Về biện pháp tư pháp: Đề nghị truy thu số tiền do các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc. Trong đó đề nghị truy thu của bị cáo T là 6.400.000đồng; bị cáo B: 5.625.000đồng; bị cáo T4 còn phải nộp là 7.900.000đồng.

- Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng), tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo đều là lao động tự do, nguồn thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Trong phần tranh luận, các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với quan điểm trình bày luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Bị hại Bà Lê Thị L1, quá trình điều tra có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nhưng tại phiên tòa bà L1 đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo T mức án nghiêm minh theo quy định của pháp luật và yêu cầu bị cáo T phải có trách nhiệm trả lại số tiền còn lại cho bà L1.

Trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, các bị cáo nói lời nói sau cùng:

- Bị cáo T nói: Gia đình bị cáo hiện nay rất khó khăn bị cáo đang bị tạm giam, chấp hành án trong trại tạm giam không có điều kiện lao động để có thu nhập, bố mẹ đã già yếu, con còn nhỏ nên đề nghị Hội đồng xét xử không truy thu số tiền do vi phạm đánh bạc là 6.400.000đồng (Sáu triệu, bốn trăm nghìn đồng) và xem xét, xử bị cáo mức án thấp nhất để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội, chăm sóc con thơ và bố mẹ già.

- Bị cáo T4 và B, đều nói: Bị cáo phạm tọi lần đầu, nên kính mong Hội đồng xét xử xem xét, xử bị cáo mức án thấp nhất và cho bị cáo được hưởng án treo cải tạo tại địa phương để bị cáo có điều kiện rèn luyện bản thân sớm trở thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án không ai khiếu nại gì về quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

[2]. Căn cứ kết tội: Từ nội dung vụ án nêu trên đủ căn cứ xác định: Nguyễn Thanh T, trong thời gian từ ngày 21/12/2023 đến ngày 22/02/2024, do nợ nần và cần tiền để tiêu sài cá nhân nên đã thực hiện hành vi đưa ra các thông tin gian dối trong việc mua bán đất đối với bà Lê Thị L1 và chiếm đoạt của bà L1 tổng cộng số tiền là 164.000.000đồng.

Ngoài ra, Nguyễn Thanh T ngày 30/6/2023 có hành vi đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề cùng với Phạm Văn B với số tiền là: 5.625.000đồng và ngày 15/9/2023 mua số lô, đề cùng với Hoàng Quốc T4 với số tiền là: 8.200.000đồng. Cụ thể các bị cáo T; T4; B đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, đề với tổng số tiền là: 13.825.000đồng.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sầm Sơn, truy tố các bị cáo Nguyễn Thanh T, về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, Nguyễn Thanh T còn bị truy tố cùng với Hoàng Quốc T4 và Phạm Văn B, về tội: “Đánh bạc”, theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự, là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Xét tính chất vụ án: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, “Đánh bạc” là tệ nạn xã hội phức tạp, gây mất trật tự trị an xã hội trên địa bàn dân cư, làm ảnh hưởng đến nhiều mặt của cuộc sống gia đình, công tác, công việc của cá nhân và hoạt động bình thường của xã hội, việc phát hiện, xử lí cũng như đấu tranh loại trừ tệ nạn này là việc làm hết sức khó khăn và phức tạp.

Ngoài ra, trong vụ án này bị cáo T còn có hành vi lừa đảo chiếm đoạt, cố ý trực tiếp xâm phạn đến quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật, gây tâm lý hoang mang lo lắng đối với quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an xã hội trên địa bàn dân cư nên cần phải có đường lối xử lý nghiêm minh, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi và hậu quả phạm tội của bị cáo đã gây ra để bị cáo thấy được sự nghiêm minh của pháp luật.

[4]. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo thì thấy rằng:

- Bị cáo Nguyễn Thanh T, tuy không có tiền án, tiền sự nhưng nhân thân ngày 28/10/2013 bị TAND tỉnh Thanh Hóa xử phạt 30 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” đã chấp hành xong hình phạt tù và đã được xóa án tích nhưng T không lấy đó là bài học kinh nghiệm để rèn luyện bản thân mà ngày càng tham gia vào các hoạt động tội phạm tích cực hơn, điều đó chứng tỏ ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo là rất kém. Trong vụ án đánh bạc, Trọng giữ vai trò đồng phạm thực hành trực tiếp nhiều lần (từ hai lần trở lên) mua số lô, số đề cùng với B và T4, đến nay T vẫn chưa giao nộp lại số tiền cho cơ quan chức năng do đánh bạc mà có. Bị cáo Trọng phạm tội lần này thuộc trường hợp nghiêm trọng nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS. Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, bị cáo đã có hành vi đưa ra thông tin gian dối nhằm mục đích chiếm đoạt tiền của bà Lê Thị L1, là 164.000.000đồng. Đến nay, T mới khắc phục trả lại cho bà L1 được 50.000.000đồng. Bà L1 yêu cầu T tiếp tục khắc phục số tiền còn lại cho bà L1. Tại phiên tòa bị cáo trình bày hoàn cảnh khó khăn và đề nghị Hội đồng xét xử không truy thu số tiền do phạm tội đánh bạc mà có nhưng Hội đồng xét xử, xét thấy đây là số tiền do bị cáo phạm tội mà có nên không thuộc diện được miễn giảm theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử xét thấy cần truy thu số tiền do bị cáo vi phạm pháp luật mà có theo đúng quy định của pháp luật mới đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung và cần thiết phải có mức hình phạt nghiêm khắc hơn các bị cáo khác trong vụ án là cần thiết. Tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án bị cáo T ra đầu thú; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường khắc phục một phần hậu quả cho bà L1, gia đình T có bố, mẹ đẻ đều có công với Nhà nước (Bố là thương binh hạng ¼; Mẹ đã từng tham gia kháng chiến được tặng thưởng nhiều giấy khen, huân huy chương cao quý khác) nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đối với bị cáo B và T4, có vai trò đồng phạm ngang nhau trong việc thực hiện hành vi đánh bạc. Quá trình phạm tội bị cáo B và T4 đều ra đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình giải quyết vụ án bị cáo T4 đã tự nguyện giao nộp lại cho Nhà nước số tiền do đánh bạc mà có nên bị cáo T4 được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo B được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Từ những phân tích đánh giá nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử khi lượng hình cũng cần xem xét giảm cho các bị cáo một phần hình phạt trong khung hình phạt do pháp luật quy định để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà yên tâm cải tạo, nhưng đối với bị cáo T cần thiết phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục răn đe và phòng ngừa chung. Đối với bị cáo B và T4, không cần thiết phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần cho bị cáo T4 và B được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục răn đe và phòng ngừa chung.

[5]. Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo T đã khắc phục trả lại cho bà L1 số tiền 50.000.000đồng. Số tiền còn lại là 114.000.000 đồng, bà L1 yêu cầu T phải có trách nhiệm trả lại cho bà L1.

[6]. Về biện pháp tư pháp: Cần truy thu số tiền do các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc. Trong đó bị cáo T4 đã giao nộp số tiền 2.000.000 đồng, theo biên lai thu số 0000770 ngày 03/4/2025 nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa, số tiền còn lại của bị cáo T4 tiếp tục được truy thu.

[7]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo đều là lao động tự do nguồn thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[8].Về xử lý vật chứng và án phí: Cần xem xét xử lý theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng: - Điểm c khoản 2 Điều 174; khoản 1 Điều 321; Điều 38 và Điều 58; Điều 55; Điều 17; Điều 47; điểm b điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, đối với Nguyễn Thanh T.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 231; Điều 65; Điều 58; Điều 17; điểm i điểm s khoản 1 (Hoàng Quốc T4 thêm khoản 2) Điều 51; Điều 47 Bộ luật hình sự, đối với Hoàng Quốc T4 và Phạm Văn B.

- Điều 61; 62; 65; 331; 333; 136; 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

- Tuyên bố: - Nguyễn Thanh T, phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

- Nguyễn Thanh T; Phạm Văn B và Hoàng Quốc T4, phạm tội “Đánh bạc”

- Xử phạt: Nguyễn Thanh T, 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Đánh bạc” và 42 (Bốn mươi hai) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung của cả hai tội buộc bị cáo Nguyễn Thanh T phải chấp hành là 54 (Năm mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 05/12/2024.

- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Thanh T, phải có trách nhiệm trả lại số tiền còn lại cho bà Lê Thị L1 là 114.000.000 đồng. (Một trăm mười bốn triệu đồng).

- Xử phạt: Hoàng Quốc T4, 9 (Chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Hoàng Quốc T4 cho UBND xã Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

- Xử phạt: Phạm Văn B, 9 (Chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng,tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Phạm Văn B cho UBND phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Những người được hưởng án treo nếu thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1Điều 92 Luật thi án hình sự.

- Về biện pháp tư pháp: Truy thu số tiền do các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc. Trong đó, bị cáoTrọng 6.400.000 đồng (Sáu triệu bốn trăm nghìn đồng); bị cáo B 5.625.000 đồng (Năm triệu, sáu trăm hai mươi lăm nghìn đồng); bị cáo T4 9.900.000đồng (Chín triệu, chín trăm nghìn đồng), nhưng trong quá trình giải quyết vụ án bị cáo T4 đã giao nộp được 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng), theo biên lai thu số 0000770 ngày 03/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Bị cáo T4 còn phải nộp 7.900.000 đồng (bảy triệu, chín trăm nghìn đồng).

- Về án phí: Các bị cáo T, B, T4, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng), tiền án phí hình sự sơ thẩm.

- Về xử lý vật chứng: - Tịch thu phát mại sung công quỹ Nhà nước đối với các vật chứng do các bị cáo phạm tội mà có. Trong đó 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme C11 màu xám đen của bị cáo T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSmax màu vàng của bị cáo B và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu trắng của bị cáo T4;

- Trả lại vật chứng do không sử dụng vào việc phạm tội đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu FONROX màu xanh đen cho người có quyền lợi nghãi vụ liên quan trong vụ án là Bà chị Nguyễn Thị O.

Các vật chứng nêu trên được mô tả theo biên bản giao nhận vật chứng số 24/BBVC-CCTHA ngày 28/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo; bị hại bà Lê Thị L1 có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án là Bà chị Nguyễn Thị O, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6; Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 85 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

- VKSNDTP tỉnh Thanh Hóa;

- TAND tỉnh Thanh Hóa;

- Công an TP Sầm Sơn;

- VKSNDTP Sầm Sơn;

- Chi cục THADSTP Sầm Sơn;

- Bị cáo;

- Lưu hồ sơ vụ án;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Thuyên

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Thơm; Phạm Văn Hay

Bùi Thị Thuyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2025/HS-ST ngày 04/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN - TỈNH THANH HÓA về hình sự sơ thẩm (lừa đảo chiếm đoạt tài sản và đánh bạc)

  • Số bản án: 28/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN - TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger