|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
|
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 28/2025/HS-PT Ngày 25 tháng 02 năm 2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Thuận Lợi.
Các Thẩm phán: Ông Phạm Tấn Tài và bà Nguyễn Thị Thúy Hồng.
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Đinh Văn Hải - Kiểm sát viên
Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 337/2024/TLPT-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo Võ Văn G theo Quyết định Giám đốc thẩm số 80/2024/HS-GĐT ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về phần xử lý vật chứng. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 298/2024/QĐXXPT-HS ngày 27 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 45/2024/QĐ-PT ngày 24 tháng 12 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 02/2025/QĐ-PT ngày 17 tháng 01 năm 2025; Thông báo về việc mở lại phiên tòa số 21/TB-TA ngày 12 tháng 02 năm 2025;
Bị cáo: Võ Văn G, sinh ngày 01/01/1982 tại huyện L, tỉnh Hậu Giang. Nơi đăng ký thường trú: Ấp C, xã T, huyện L, tỉnh Hậu Giang. Chỗ ở hiện nay: Ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn T và bà Đỗ Thị N;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù theo Bản án hình sự phúc thẩm số 19/2024/HS-PT ngày 19/02/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang. (Bị cáo có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng TMCP V (V1); địa chỉ: Số H, L, phường L, Quận Đ, thành phố Hà Nội. Đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Thanh N1, sinh năm 1992; địa chỉ: Tầng B, số B T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; HKTT: Ấp S, xã T, huyện T, tỉnh An Giang (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Trong vụ án còn có những người tham gia tố tụng khác nhưng không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 03 giờ 00 ngày 06/02/2023, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế và ma túy - Công an huyện T phối hợp với Đồn biên phòng V2 tuần tra phát hiện xe ô tô tải biển số 95C-025.38 do anh Lý Hà Anh P điều khiển cùng Hồ Lương N2 đi từ vành đai biên giới Việt Nam - Campuchia về cầu S, thuộc ấp V, xã V, huyện T có biểu hiện nghi vấn, lực lượng chức năng yêu cầu dừng phương tiện kiểm tra phát hiện trên xe có 77 con heo (gồm 52 con heo sống, trọng lượng 4.229kg; 25 con heo chết, trọng lượng 2.439kg) nên đưa về trụ sở lập biên bản cùng vật chứng. Qua làm việc, P khai số lượng heo trên là của Võ Văn G thuê P chở (không rõ nguồn gốc heo) và không xuất trình được giấy tờ liên quan. Qua điều tra xác định: Trước ngày bắt quả tang, G liên lạc mua heo thịt của người tên S (chưa rõ nhân thân, người Campuchia), không khai báo, sau đó thuê H (chưa rõ lai lịch) và Lý Hà Anh P kiểm hàng và lái xe đem heo từ Campuchia về Kiên Giang bán kiếm lời thì bị bắt.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) xe ô tô biển số 95C-025.38 (xe đã qua sử dụng); 01 giấy phép lái xe số 89007100055, cấp ngày 21/5/2019 tên Lý Hà Anh P (đã trả lại cho P); 01 giấy chứng nhận kiểm định ATKT và BVMT số 0684995, cấp ngày 28/4/2022 phương tiện xe ô tô biển số 95C-025.38; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện số [...], cấp ngày 28/4/2022 tên chủ xe Võ Văn G.
Tại Bản kết luận giám định số 16 ngày 06-02-2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: 52 con heo sống tổng trọng lượng 4.229kg có giá trị 249.511.000 đồng; 25 con heo chết ngạt, tổng trọng lượng 2.439kg có giá trị là 50.000.000 đồng. Tổng giá trị 299.511.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2023/HSST ngày 30 tháng 11 năm 2023, Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn xử phạt bị cáo Võ Văn G: 09 (chín) tháng tù về tội “Buôn lậu” theo khoản 1 Điều 188 Bộ luật Hình sự. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù.
Về vật chứng: Tuyên bố tịch thu 01 (một) xe ô tô biển số 95C-025.38 (xe đã qua xử dụng); 01 giấy chứng nhận kiểm định ATKT và BVMT số 0684995, cấp ngày 28/4/2022 phương tiện ô tô biển số 95C-025.38; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện số [...], cấp ngày 28/4/2022 tên chủ xe Võ Văn G để sung vào ngân sách Nhà nước.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 11/12/2023, bị cáo Võ Văn G có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo.
Ngày 12/12/2023, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng TMCP V (V1) có đơn kháng cáo nội dung yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét trả lại chiếc ô tô biển số 95C-025.38 đứng tên Võ Văn G do tài sản đang thế chấp vay ngân hàng để thu hồi nợ vay, đảm bảo nghĩa vụ trả nợ của bị cáo đối với Ngân hàng.
Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 19/2024/HS-PT ngày 29/5/2023, Tòa án nhân dân tỉnh An Giang quyết định: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Võ Văn G. Giữ nguyên hình phạt của Bản án sơ thẩm. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP V (V1). Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 54/2023/HS-ST ngày 30 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn. Căn cứ khoản 1 Điều 188; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Võ Văn G 09 (chín) tháng tù về tội “Buôn lậu”. Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo được tính từ ngày bắt chấp hành án. Trả lại 01 (một) xe ô tô biển số 95C-025.38 (xe đã qua sử dụng); 01 Giấy chứng nhận kiểm định ATKT và BVMT số 0684995, cấp ngày 28/4/2022 phương tiện xe ô tô biển số 95C-025.38; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện số [...], cấp ngày 28/4/2022 (tên chủ xe Võ Văn G) cho bị cáo Võ Văn G.
Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí theo luật định.
Sau khi xét xử phúc thẩm, ngày 19 tháng 02 năm 2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định kháng nghị số 190/QĐ-VC3-V1 ngày 29/7/2024 đối với Bản án hình sự phúc thẩm số 19/2024/HS-PT ngày 19/02/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử giám đốc thẩm hủy Bản án hình sự phúc thẩm nêu trên về phần xử lý vật chứng và giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2023/HSST ngày 30 tháng 11 năm 2023, Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang về phần xử lý vật chứng.
Tại Quyết định Giám đốc thẩm số: 80/2024/HS-GĐT ngày 27/9/2024 của Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Căn cứ Điều 382, khoản 3 Điều 388, Điều 391 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 01/2024/KN-HS ngày 01/4/2024 và thay đổi nội dung Kháng nghị tại phiên tòa của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Hủy một phần Bản án hình sự phúc thẩm số 19/2024/HS-ST ngày 19/02/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang về phần xử lý vật chứng: “Trả lại 01 (một) xe ô tô biển số 95C-025.38 (xe đã qua xử dụng); 01 giấy chứng nhận kiểm định ATKT và BVMT số 0684995, cấp ngày 28/4/2022 phương tiện ô tô biển số 95C-025.38; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện số [...], cấp ngày 28/4/2022 (tên chủ xe Võ Văn G) cho bị cáo Võ Văn G".
Giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân tỉnh An Giang để xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Võ Văn G có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; Đại diện Ngân hàng TMCP V (V1) có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và gửi Công văn số 509/2025/VPB-LCC ngày 05/02/2025 về việc phúc đáp công văn số 10/2025/TA-HS ngày 20/01/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu và có quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận nội dung đơn kháng cáo của bị cáo Võ Văn G và Đại diện Ngân hàng TMCP V (V1), giữ nguyên bản án sơ thẩm; các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét. Áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Truy thu để tịch thu phát mãi sung vào ngân sách Nhà nước 01 xe ô tô biển số 95C-025.38 cùng các giấy tờ xe do Võ Văn G đứng tên sở hữu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về thủ tục tố tụng: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, đại diện V1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo trả lại cho bị cáo chiếc ô tô biển số 95C-025.38 là tài sản đã thế chấp vay vốn Ngân hàng.
- Về nội dung vụ án: Xử lý vật chứng trong vụ án gồm: 01 xe ô tô biển số 95C-025.38 (xe đã qua sử dụng); 01 giấy chứng nhận kiểm định ATKT và BVMT số 0684995, cấp ngày 28/4/2022 phương tiện xe ô tô biển số 95C-025.38; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện số [...], cấp ngày 28/4/2022 tên chủ xe Võ Văn G.
-
Xét về yêu cầu kháng cáo của Ngân hàng TMCP V (V1), Hội đồng xét xử nhận thấy:
Chiếc xe ô tô mang biển số 95C-025.38 thuộc sở hữu của bị cáo Võ Văn G, bị cáo sử dụng xe này làm phương tiện phạm tội, cấp sơ thẩm áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, để tịch thu sung ngân sách Nhà nước là đúng quy định; về quyền lợi của Ngân hàng TMCP V sẽ được đảm bảo bằng một vụ kiện dân sự khác nếu Ngân hàng có yêu cầu khởi kiện. Điều này phù hợp với quy định tại khoản 9 Điều 21 Nghị định số 21/2021/NĐCP ngày 19/3/2021 của Chính phủ, Quy định thi hành Bộ luật dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ: “Trường hợp tài sản bảo đảm bị tiêu hủy, bị tổn thất toàn bộ hoặc bị phá dỡ, bị tịch thu theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì được xác định là không còn tài sản bảo đảm,……” và khoản 3 Điều 49 Nghị định nêu trên quy định “Trường hợp Bộ luật Dân sự, luật khác liên quan quy định tài sản đang dùng để bảo đảm phải xử lý để bên bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác thì tài sản này được xử lý theo quy định đó.”
Tuy nhiên, Quyết định giám đốc thẩm số: 80/2024/HS-GĐT ngày 27/9/2024 của Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao thành phố Hồ Chí Minh, nhận định xử lý vật chứng theo hướng tuyên giao xe ô tô cho Ngân hàng TMCP V và Cơ quan thi hành án huyện T, tỉnh An Giang cùng đại diện gia đình bị cáo G tiến hành thanh lý hợp đồng tín dụng (có thế chấp xe ô tô trên) bán đấu giá lấy tiền thu hồi nợ gốc, lãi cho Ngân hàng, số tiền còn lại (nếu có) tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Giai đoạn phúc thẩm lần hai, phía Ngân hàng TMCP V có Công văn số 509 ngày 05/02/2025 do ông Đỗ Thành T1 ký và có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt của ông Lê Thanh N1 (Đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng), thể hiện: Ngày 08/4/2024 Võ Văn G đã tất toán khoản vay tại V3 theo Hợp đồng cho vay số: LN1702100019565/AGG/HĐTD 12/4/2017. Tài sản đảm bảo cho khoản vay và lãi suất phát sinh là toàn bộ quyền sở hữu, sử dụng xe ô tô mang biển số 95C-025.38 do Võ Văn G đứng tên sở hữu; Phía Ngân hàng đã giải chấp tài sản cho khách hành theo quy định, vì vậy Ngân hàng không còn liên quan gì trong vụ án.
Vì vậy, cần áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; để tịch thu sung ngân sách Nhà nước phương tiện Xe ô tô biển số 95C-025.38 do Võ Văn G đứng tên sở hữu, bị cáo dùng vào việc phạm tội; điều này phù hợp với quyết định của Bản án sơ thẩm số 54 ngày 30/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, nên giữ nguyên Bản án sơ thẩm nêu trên như quan điểm của Viện kiểm sát.
- Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, không chấp nhận nội dung đơn kháng cáo của bị cáo Võ Văn G, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 54/2023/HS-ST ngày 30/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang (về phần xử lí vật chứng).
Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Truy thu để tịch thu phát mãi sung vào ngân sách Nhà nước 01 xe ô tô biển số 95C-025.38 cùng các giấy tờ xe do Võ Văn G đứng tên sở hữu.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm, phúc thẩm lần đầu không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thuận Lợi |
| CÁC THẨM PHÁN | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ | |
| Nguyễn Thị Thúy Hồng | Phạm Tấn Tài | Nguyễn Thuận Lợi |
Bản án số 28/2025/HS-PT ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 28/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Buôn lậu
