Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH PHÚC

Bản án số: 28/2025/HS-PT

Ngày 19-3-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Nghĩa
  • Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Vĩnh Thành và bà Phạm Thị Thúy Mai.
  • Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thu Mai - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Kim Tuyến - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 19/2025/TLPT - HS ngày 05 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo Cao Văn T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 141/2024/HS-ST ngày 26 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường.

Bị cáo có kháng cáo: Cao Văn T, sinh ngày 14/9/1995; nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã N, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; chỗ ở hiện nay: TDP T, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Văn K và bà Nguyễn Thị H; có vợ Vũ Thị T1 và có 03 con (con lớn nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2024); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 04/5/2024, tạm giam ngày 13/5/2024 (có mặt).

Ngoài ra, trong vụ án còn có bị cáo Nguyễn Đắc L, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng gần 10 giờ 00 phút ngày 03/5/2024, Cao Văn T đang ở tại quán bán hàng thịt chó Ngũ Kiên của gia đình T tại Tổ dân phố T, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc thì nhận được tin nhắn từ tài khoản Zalo “Tuân Cháy” của Nguyễn Văn T2 gửi đến tài khoản Zalo của T là “Trường” với nội dung “Lo nay về ko em...nếu về thì cắt cho ah 31” ý của T2 là hỏi T có về quê ở xã N không, nếu về thì bán cho T2 300.000đ tiền ma túy đá. T hiểu ý của T2 nên trả lời: “Thôi để ít nữa a ak” ý của T là để vài hôm nữa T về thì T bán ma túy cho T2. Sau đó, T đi đến khu vực tổ dân phố M, phường K, thành phố V mua được 01 túi ma túy đá với giá 800.000đ với mục đích để sử dụng và để khi nào về xã N thì bán cho T2. Sau khi mua được ma túy, T cất ma túy vào túi quần rồi đi về quán ăn nhà Trường.

Đến khoảng 21 giờ 30 phút ngày 03/5/2024, T nhắn tin với Nguyễn Đắc L thông qua tài khoản Zalo của T có tên là “T” và tài khoản Zalo của L có tên là “Lanluxury”. Qua nhắn tin nói chuyện, T và L thống nhất T sẽ về nhà L để cùng sử dụng ma túy với L. Sau đó, T mang theo 01 túi ma túy đá và 01 coóng thủy tinh đúc ở túi quần rồi đi xe taxi của anh Chu Đức V, sinh năm 1985 trú tại thôn C, xã N từ thành phố V về nhà L. Khi đến cổng nhà L thì T gặp L đang đứng ở cổng. T xuống xe đi vào bên trong nhà L, còn anh V điều khiển xe đi về nhà. Sau khi vào nhà L, T đi lên phòng ngủ giáp cầu thang ở tầng 2 nhà L trước, còn L ở lại khóa cổng rồi đi lên sau. Do đã thỏa thuận với nhau về việc sử dụng ma túy tại nhà L nên khi L và T đi vào phòng ngủ tại tầng 2 nhà L thì L đi đến tủ quần áo kê ở trong phòng, lấy từ trong tủ ra 01 (một) vỏ chai nhựa (ở phần nắp chai đã được đục sẵn 02 lỗ nhỏ), 03 đoạn ống hút bằng nhựa và 01 bật lửa gas. L nối 03 đoạn ống hút nhựa vào với nhau rồi cắm một đầu ống hút vào một lỗ của nắp chai nhựa. T lấy từ trong túi quần bên trái đang mặc ra 01 coóng thủy tinh đưa cho L. L cầm coóng thủy tinh T đưa rồi gắn một đầu vào lỗ còn lại ở nắp chai nhựa. Sau đó, L đưa nắp chai nhựa đã được gắn coóng thủy tinh và ống hút nhựa đó cho T, rồi L cầm vỏ chai nhựa đi ra nhà vệ sinh cạnh phòng ngủ cho nước lã vào trong chai và quay lại đưa chai nhựa đó cho T. T cầm chai nhựa chứa nước rồi gắn phần nắp chai đang nối với ống hút và coóng thủy tinh vào chai nhựa tạo thành bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá hoàn chỉnh. Tiếp đó, T lấy từ trong túi quần bên trái đang mặc ra 01 túi ma túy đá, đổ khoảng 1/3 số ma túy ở trong túi vào đầu coóng, dùng bật lửa gas đốt ma túy đá trong coóng cho hơi của ma túy bay vào trong chai nhựa và dùng miệng ngậm 01 đầu ống hút, hút hơi ma túy đá ở trong chai nhựa vào trong cơ thể. Sau khi T sử dụng ma túy xong thì L cũng đến và sử dụng ma túy với cách thức như T đã sử dụng. T và L liên tục cùng nhau sử dụng ma túy đá cho đến khoảng hơn 03 giờ ngày 04/5/2024 thì gần hết số ma túy đá trong coóng và cả hai đi ngủ tại phòng ngủ đó.

Khoảng 06 giờ ngày 04/5/2024, T ngủ dậy và nhắn tin cho T2 qua ứng dụng Zalo hỏi: “Thế nay có ấy k để về”, ý của T là hỏi T2 có mua ma túy đá không để T về bán cho (lúc này mặc dù T vẫn đang ở nhà L nhưng T vẫn chưa muốn cho T2 biết là T đã về xã N). T2 hiểu ý của T nên nhắn tin lại là “Có”. T tiếp tục hỏi T2 “Có bn đây”, ý của T là hỏi T2 lấy bao nhiêu tiền ma túy đá. T2 trả lời “Lấy 500k nhé”, ý của T2 là lấy 500.000đ tiền ma túy đá. Sau đó, T nhắn tin bảo T2 là lấy bao nhiêu thì chuyển khoản cho T. Do T2 chỉ có 350.000₫ trong tài khoản nên T2 chỉ chuyển cho T số tiền 350.000đ từ ứng dụng Momo của T2 liên kết với số tài khoản 0968.794.316 mở tại ngân hàng V1 đến ứng dụng Momo có tên Vũ Thị T1 liên kết với số tài khoản 0368.922.465 mở tại ngân hàng M3 (là ứng dụng Momo và tài khoản ngân hàng của chị Vũ Thị T1 – sinh năm 1996, HKTT: tại thôn Đ, xã N, huyện V là vợ của T, tuy nhiên ứng dụng Momo và tài khoản ngân hàng này do T quản lý và sử dụng), số tiền 150.000đ còn lại thì T2 nhắn tin cho T là sẽ trả tiền mặt cho T2 khi gặp. Sau khi nhận được tiền do T2 chuyển thì T nhắn tin bảo T2 đến nhà của L để trao đổi, mua bán trái phép chất ma túy. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, T2 đi một mình đến nhà của L và nhắn tin cho T bảo mở cổng cho T2 vào thì T bảo L xuống mở cổng cho T2. L đi xuống mở cổng cho T2 vào trước, còn L ở lại đóng cổng. T2 đi lên phòng ngủ tại tầng 2 nhà L thì thấy trong coóng thủy tinh còn một ít ma túy đá nên T2 đi đến và tự sử dụng hết số ma túy đá còn lại trong coóng. Sau khi T2 sử dụng hết ma túy trong coóng thì T lấy túi ma túy đá của T để ở trên đệm kê ở trong phòng đổ một ít ma túy vào trong coóng để T2, T, L cùng sử dụng; còn lại một ít ma túy trong túi thì T đưa cho T2 để bán cho T2 như đã thỏa thuận trước đó thì T2 bảo T “Cứ để đó, tí về anh lấy”. Sau đó, T để túi ma túy này ở dưới khe đệm. T, T2, L lần lượt tự sử dụng ma túy trong coóng đến khoảng 10 giờ cùng ngày thì L hỏi xin T2 tiền để tiêu xài cá nhân nên T2 đã đồng ý và đưa cho L 01 tờ tiền polime mệnh giá 100.000đ, L cầm tờ tiền T2 đưa cất vào trong túi quần bên phải phía trước L đang mặc. T, T2, L tiếp tục lần lượt tự sử dụng ma túy trong coóng đến khoảng hơn 12 giờ cùng ngày thì gần hết số ma túy đá trong coóng. Lúc này, T bảo T2 “Có tiền không cho em mấy chục để em đi taxi”. T2 trả lời “Có, tý anh cho”, rồi T2 bảo T: “Đưa cho anh để anh về”, ý của T2 là bảo T đưa túi nilon có chứa ma túy đá mà T bán cho T2 để T2 đem về. Thấy vậy, T lấy túi ma túy đá cất ở khe đệm lên đưa cho T2. T2 cầm túi ma túy đá T đưa thấy chỉ còn ít ma túy trong túi không đủ lượng 500.000đ như T2 đã hỏi mua của T nên không tiếp tục trả cho T số tiền 150.000đ còn thiếu nữa. Sau đó, T2 bảo L: “Bạn xuống mở cổng cho tôi về”. L đồng ý rồi đi xuống mở cổng cho T2 về, khi đi đến trước cửa nhà L thì T2 có hỏi xin số tài khoản Momo của L và L đọc cho T2 số tài khoản M4 liên kết với số tài khoản 10386.100.8989 mở tại ngân hàng V2 của L. Sau đó, T2 chuyển 25.000đ vào tài khoản Momo của L để cho T tiền taxi, rồi T2 đi ra khỏi nhà L. Khi T2 vừa đi khỏi nhà L thì L thấy có người bán hoa quả rong đi qua nên L sử dụng 100.000đ của T2 cho trước đó để mua hoa quả hết, rồi L đóng cổng đi lên phòng ngủ tầng 2 nhà L ngồi chơi với T.

Sau khi đi khỏi nhà L thì T2 đi đến nghĩa trang Đ1 ở thôn T, xã N là nơi T2 cất giấu 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá. Tại đây, T2 đã sử dụng hết số ma túy đá mua được của T, khi T2 vừa sử dụng ma túy xong thì lực lượng Công an huyện V đã làm nhiệm vụ, đến kiểm tra, phát hiện T2 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ gồm: Thu trên mặt đất gần vị trí T2 đang ngồi có 01 bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy đá gồm chai nhựa bên trong chứa nước, coóng thủy tinh (bầu coóng có bám dính chất màu đen), ống hút, bật lửa được niêm phong trong 01 phong bì thư theo đúng quy định của pháp luật, ký hiệu A1; 01 túi nilon bên trong còn bám dính các hạt tinh thể dạng đá màu trắng được niêm phong trong 01 phong bì thư theo đúng quy định của pháp luật, ký hiệu A2. T3 trong túi quần bên trái phía trước T2 đang mặc 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart loại Joy 1+ màu đen đã cũ bên trong lắp sim thuê bao 0968.794.316.

Quá trình làm việc với Cơ quan Công an, T2 đã khai nhận nguồn gốc số ma túy mà T2 có để sử dụng là do T2 vừa mua được của Cao Văn T tại nhà của Nguyễn Đắc L ở thôn T, xã N, huyện V.

Căn cứ lời khai của T2, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã tiến hành triệu tập làm việc và ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Cao Văn T và Nguyễn Đắc L. Quá trình giữ người, Cơ quan điều tra đã thu giữ của L 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 11 Pro Max màu xanh đen đã cũ bên trong lắp sim thuê bao 0969.569.688 và thu giữ của T 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Apple loại Iphone XS màu vàng hồng đã cũ bên trong lắp sim thuê bao 0986.742.286.

Cùng ngày 04/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V ra Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Đắc L tại thôn T, xã N, huyện V. Quá trình khám xét đã phát hiện thu giữ trên chiếc đệm kê ở trong phòng ngủ tầng 2 nhà L 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm: 01 vỏ chai nhựa bên trong chứa nước, ống hút bằng nhựa, 01 coóng thủy tinh, bầu coóng có bám dính chất màu đen và 01 chiếc bật lửa màu trắng đã qua sử dụng. Tang vật là coóng thủy tinh được niêm phong trong 01 phong bì thư theo đúng quy định của pháp luật, ký hiệu A3.

Ngày 04/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V phối hợp cùng Trạm y tế thị trấn V thu mẫu nước tiểu của Nguyễn Văn T2, Cao Văn T, Nguyễn Đắc L để phục vụ giám định theo quy định, đồng thời tiến hành test nhanh chất ma túy trong mẫu nước tiểu của T2, T, L xác định: trong mẫu nước tiểu của T2, T, L dương tính với chất ma túy Methamphetamine.

Ngày 05/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V ra Quyết định số 845, 846, 847, 848 trưng cầu Phòng K1 - Công an tỉnh V để giám định 02 coóng thủy tinh, 01 túi nilon không màu ký hiệu A1, A2, A3 thu giữ của T2 và thu giữ khi khám xét chỗ ở của L có bám dính chất ma túy không, nếu có thì là loại ma túy gì, khối lượng chất bám dính là bao nhiêu và giám định trong mẫu nước tiểu thu giữ của T2, T, L ký hiệu M1, M2, M3 có chất ma túy không? Nếu có thì là loại chất ma túy gì?

Tại Bản kết luận giám định số 1165/KLGĐ-KTHS ngày 09/5/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh V, kết luận:

Chất màu đen bám dính bên trong 01 coóng thủy tinh của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Không xác định được khối lượng chất bám dính do mẫu tồn tại ở dạng vết.

Chất màu trắng bám dính bên trong 01 túi nilon của mẫu ký hiệu A2 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Không xác định được khối lượng chất bám dính do mẫu tồn tại ở dạng vết.

Chất màu đen bám dính trên các mảnh thủy tinh bị vỡ của mẫu ký hiệu A3 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Không xác định được khối lượng chất bám dính do mẫu tồn tại ở dạng vết.

Tại Bản kết luận giám định số 1274/KL-KTHS ngày 11/5/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh V, kết luận: Tìm thấy chất ma túy Methamphetamine trong mẫu chất lỏng màu vàng được xác định là mẫu nước tiểu thu của Nguyễn Văn T2, SN: 1991, trú tại: Thôn H, xã N, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (ký hiệu M1) gửi đến giám định.

Tại Bản kết luận giám định số 1275/KL-KTHS ngày 11/5/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh V, kết luận: Tìm thấy chất ma túy Methamphetamine trong mẫu chất lỏng màu vàng được xác định là mẫu nước tiểu thu của Nguyễn Đắc L, SN: 1989, trú tại: Thôn T, xã N, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (ký hiệu M3) gửi đến giám định.

Tại Bản kết luận giám định 1290/KL-KTHS ngày 12/5/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh V, kết luận: Tìm thấy chất ma túy Methamphetamine trong mẫu chất lỏng màu vàng được xác định là mẫu nước tiểu thu của Cao Văn T, SN: 1995, trú tại: Thôn Đ, xã N, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (ký hiệu M2) gửi đến giám định.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II, mục IIC, TT 247 Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Ngày 28/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V ra các Quyết định trưng cầu giám định số 1690, 1691, 1692, trưng cầu Phòng K1 Công an tỉnh V tiến hành giám định đối với 03 chiếc điện thoại thu giữ của Nguyễn Đắc L, Cao Văn T, Nguyễn Văn T2 yêu cầu: Khôi phục, trích xuất dữ liệu là tin nhắn SMS, tin nhắn messenger, tin nhắn zalo, nhật ký cuộc gọi, dữ liệu về biến động số dư của tài khoản ngân hàng, tài khoản ứng dụng Momo đăng nhập trên mẫu gửi giám định trong hai ngày 03, 04/5/2024.

Tại Bản kết luận giám định số 2747/KL-KTHS ngày 25/9/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh V đối với chiếc điện thoại của Nguyễn Đắc L, kết luận: Khôi phục, trích xuất được dữ liệu đối với mẫu vật gửi giám định. Qua kiểm tra, phân tích, tìm kiếm dữ liệu theo nội dung yêu cầu giám định thời gian trong hai ngày 03/5/2024 và 04/5/2024 thấy:

  • Điện thoại di động: Khôi phục, trích xuất được 126 cuộc gọi, 09 tin nhắn SMS, 628 tin nhắn ứng dụng Zalo, 432 tin nhắn ứng dụng Messenger; Chụp 04 ảnh màn hình điện thoại thể hiện biến động số dư trong ứng dụng ngân hàng V2, không trích xuất được giữ liệu đối với ứng dụng M3 và M.
  • Thẻ sim kèm theo không có dữ liệu.

Kèm theo Kết luận giám định: 01 (một) Phụ lục có chữ ký của giám định viên và dấu của phòng K1 Công an tỉnh V.

Tại Bản kết luận giám định số 2748/KL-KTHS ngày 25/9/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh V đối với chiếc điện thoại của Cao Văn T, kết luận: Khôi phục, trích xuất được dữ liệu đối với mẫu vật gửi giám định. Qua kiểm tra, phân tích, tìm kiếm dữ liệu theo nội dung yêu cầu giám định thời gian trong hai ngày 03/5/2024 và 04/5/2024 thấy:

  • Điện thoại di động: Khôi phục, trích xuất được 29 cuộc gọi, 19 tin nhắn SMS, 110 tin nhắn ứng dụng Zalo, 64 tin nhắn ứng dụng Messenger, không trích xuất được dữ liệu đối với ứng dụng M3 và M.
  • Thẻ sim kèm theo không có dữ liệu.

Kèm theo Kết luận giám định: 01 (một) Phụ lục có chữ ký của giám định viên và dấu của phòng K1 Công an tỉnh V.

Tại Bản kết luận giám định số 2749/KL-KTHS ngày 25/9/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh V đối với chiếc điện thoại của Nguyễn Văn T2, kết luận: Khôi phục, trích xuất được dữ liệu đối với mẫu vật gửi giám định. Qua kiểm tra, phân tích, tìm kiếm dữ liệu theo nội dung yêu cầu giám định thời gian trong hai ngày 03/5/2024 và 04/5/2024 thấy:

  • Điện thoại di động: Khôi phục, trích xuất được 27 cuộc gọi, 23 tin nhắn SMS, 377 tin nhắn ứng dụng Zalo, không tìm thấy ứng dụng Facebook M1; C được 06 ảnh màn hình điện thoại thể hiện dữ liệu ứng dụng Momo.
  • Thẻ sim kèm theo không có dữ liệu.

Kèm theo Kết luận giám định: 01 (một) Phụ lục có chữ ký của giám định viên và dấu của phòng K1 Công an tỉnh V.

Với nội dung trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 141/2024/HS-ST ngày 26 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Cao Văn T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 255; khoản 1 Điều 251; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 58 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Cao Văn T 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành là 10 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 04/5/2024).

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Đắc L, xử lý vật chứng, tuyên án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 04/01/2025, bị cáo Cao Văn T có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo Cao Văn T công nhận Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đúng tội danh, bị cáo không bị oan. Bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc thực hành quyền công tố tại phiên tòa sau khi nghe tóm tắt nội dung vụ án, phân tích đánh giá hành vi phạm tội và xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đã phát biểu và có quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự, không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 141/2024/HS-ST ngày 26/12/2024 về phần hình phạt đối với bị cáo Cao Văn T.

Bị cáo Cao Văn T cho rằng bị cáo không phải là người có vai trò chính trong vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Đơn kháng cáo của bị cáo Cao Văn T làm trong hạn luật định, hợp lệ nên được chấp nhận xem xét, giải quyết.

[2]. Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3]. Về nội dung vụ án: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo Cao Văn T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, từ đó có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 03/5/2024, tại phòng ngủ tầng 2 nhà ở của Nguyễn Đắc L ở thôn T, xã N, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, Nguyễn Đắc L và Cao Văn T có hành vi Tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma túy Methamphetamine. Đến khoảng 03 giờ 00 phút ngày 04/5/2024, sau khi sử dụng ma túy xong thì T và L cùng ngủ tại phòng ngủ tầng 2 nhà L. Khoảng 08 giờ ngày 04/5/2024, sau khi ngủ dậy T đã thực hiện hành vi bán trái phép cho Nguyễn Văn T2 01 túi ma túy Methamphetamine với giá 350.000đ; đồng thời T và L tiếp tục thực hiện hành vi Tổ chức cho T2 cùng T và L sử dụng trái phép chất ma túy Methamphetamine tại nhà ở của L.

Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Cao Văn T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm a, b khoản 2 Điều 255; khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự coi thường pháp luật, gây mất trật tự trị an tại địa phương; xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy; xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây tác hại xấu cho sức khoẻ của con người; làm quần chúng nhân dân bất bình, lên án. Từ việc sử dụng trái phép ma túy còn là nguyên nhân dẫn đến nhiều tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật, hay tội phạm khác. Do vậy, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.

[5]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Cao Văn T, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo là người nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện; bị cáo là người cung cấp ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy; tổ chức cho L, T2 cùng bị cáo sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà L. Ngoài ra, bị cáo còn thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy cho T2. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tính chất, mức độ, số lần thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo và áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo xử phạt bị cáo 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành là 10 năm tù là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại cấp phúc thẩm gia đình bị cáo cung cấp giấy chứng nhận được thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất đối với ông Cao Văn Đ và Huân chương kháng chiến hạng ba đối với bà Trương Thị T4 và cho rằng là ông bà nội của bị cáo T, tuy nhiên, không có tài liệu nào thể hiện ông Cao Văn Đ và bà Chương Thị T5 là ông bà nội của bị cáo nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận. Bị cáo cho rằng bị cáo không giữ vai trò chính trong vụ án, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo là người cung cấp ma túy, chuẩn bị công cụ sử dụng ma túy, rủ T2 cùng sử dụng ma túy, sau đó bán ma túy cho T2 nên bị cáo giữ vai trò chính trong vụ án này. Ngoài ra, bị cáo không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì mới, do vậy kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo không có căn cứ, nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6]. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đề nghị Hội đồng xét xử xem xét không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Cao Văn T, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo là phù hợp, được chấp nhận.

[7]. Từ phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Cao Văn T, giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo.

[8]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Cao Văn T, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 141/2024/HS-ST ngày 26 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường.

[1]. Tuyên bố bị cáo Cao Văn T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; khoản 1 Điều 251; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 58 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Cao Văn T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung của cả hai tội là 10 ( Mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 04/5/2024).

[2]. Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bị cáo Cao Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

[3]. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4]. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - TAND huyện Vĩnh Tường;
  • - VKSND huyện Vĩnh Tường;
  • - Chi cục THADS huyện Vĩnh Tường;
  • - Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Cơ quan THAHS - Công an tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Sở tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: HS, Tòa hình sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Văn Nghĩa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2025/HS-PT ngày 19/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự phúc thẩm (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 28/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cao Văn T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger