|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 28/2025/HS-PT Ngày: 11/3/2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Trần Minh Bắc |
| Các Thẩm phán: | Ông Bùi Thái Hùng |
| Ông Hoàng Trí Thức | |
| - Thư ký phiên tòa: | Bà Trịnh Thị Đài Trang - Thư ký Tòa án. |
| - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: | Bà Nghiêm Thị Lan Hương - Kiểm sát viên. |
Ngày 11 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 228/2024/TLPT-HS ngày 23 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo Lê Đức T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 368/2024/HS-ST ngày 12 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Bị cáo có kháng cáo: Lê Đức T, sinh năm 1991 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; Thường trú: 3 B, phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Chỗ ở: 3 H, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Kỹ sư; Con ông Lê Văn L và bà Lưu Thị O; Là con duy nhất trong gia đình; Chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt ngày 20/4/2024, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lúc 06h00' ngày 20/4/2024, Công an phường T, Công an thành phố V tiến hành kiểm tra nhà số C H, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, bắt quả tang Lê Đức T đang có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (BL 21-24) cho 05 đối tượng gồm:
- Nguyễn Minh C (sinh năm 1994, trú tại: B N, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu);
- Hà Ngọc H (sinh năm 1984, trú tại: B P, Phường G, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu);
- Nguyễn Bùi Bảo P (sinh năm 1997, trú tại: B B, Phường C, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh);
- Lê Trần Hồng N (sinh năm 1999, trú tại: A X, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu);
- Nguyễn Thị Quỳnh N1 (sinh năm 1998, trú tại: F T, phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu).
Tang vật thu giữ gồm:
- - 01 túi nylon dạng túi zip chứa chất rắn màu trắng (T khai nhận là ma túy tổng hợp dạng khay);
- - 01 túi nylon dạng túi zip chứa 04 viên nén hình quả dâu màu xanh (T khai nhận là ma túy tổng hợp dạng thuốc lắc);
- - 02 túi nylon dạng túi zip không chứa gì;
- - 01 chiếc đĩa sứ màu trắng;
- - 01 chiếc loa màu đen;
- - 03 chiếc đèn (02 chiếc màu trắng, 01 chiếc màu xám);
- - 01 tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng được quấn thành dạng ống hút;
- - 01 thẻ ngân hàng tên LE DUC THANG, số thẻ 5268870001323676;
- - 01 điện thoại iPhone màu vàng, IMEI: 352828110828446;
- - 02 bình kim loại màu xanh;
- - 01 xe mô tô Honda Airblade màu đen, biển số 72C2-142.20, số máy: JF63E-2375696, số khung: RLHJF6321JZ.
Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lê Đức T về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và thu giữ toàn bộ tang vật liên quan. Test nhanh cho kết quả Lê Đức T, Hà Ngọc H, Nguyễn Minh C, Nguyễn Bùi Bảo P, Lê Trần Hồng N và Nguyễn Thị Quỳnh N1 đều dương tính với ma túy.
Kết quả điều tra xác định: Khoảng 20h30' ngày 19/4/2024, Lê Đức T, Hà Ngọc H, Nguyễn Minh C, Nguyễn Bùi Bảo P, đối tượng tên P1 (chưa rõ lai lịch) và một số người bạn của H (chưa rõ lai lịch) tổ chức ăn nhậu tại quán Ố, địa chỉ: A N, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Đến khoảng 23h00' cùng ngày, T, H, C, P, P1 dừng nhậu và rủ nhau đến quán Bar U, địa chỉ: A B, Phường C, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để tiếp tục ăn nhậu và nghe nhạc. Trong lúc nhậu, T rủ cả nhóm về nhà mình tại số C H, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để sử dụng ma túy và cả nhóm đồng ý. Khoảng 23h50', T điều khiển xe mô tô Honda Airblade biển số 72C2-142.20 về nhà trước để chuẩn bị. Khoảng 10 phút sau, H, C, P, P1 đến. T mở cửa dẫn lên phòng ngủ tại lầu 1 và lấy 01 gói ma túy dạng khay, 02 viên thuốc lắc đã cất giấu trong phòng còn lại từ lần sử dụng ma túy trước đó ra để cả nhóm sử dụng. T lấy 01 chiếc đĩa sứ màu trắng, đổ gói ma túy dạng khay lên trên đĩa và dùng thẻ ngân hàng tên “LE DUC THANG”, số thẻ 5268870001323676 cà nhuyễn ma túy, lấy 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng quấn thành ống hút và mở loa, đèn có sẵn tại phòng lên. Sau khi chuẩn bị ma túy và dụng cụ sử dụng xong, T bẻ 02 viên thuốc lắc thành nhiều mảnh đưa cho H, C, P, P1 mỗi người một mảnh để sử dụng bằng cách nuốt trực tiếp. Tiếp đó, T dùng thẻ Ngân hàng kẻ ma túy khay cho mỗi người sử dụng khoảng từ 01 - 02 đường bằng cách dùng ống hút hít trực tiếp vào mũi.
Đến khoảng 01h00' ngày 20/4/2024, cả nhóm sử dụng hết số ma túy T mang ra. T liền gọi điện thoại cho một đối tượng tên “A Thành Shiper” (chưa rõ nhân thân lai lịch) qua số di động 0937400252 hỏi mua 05 viên thuốc lắc và nửa hộp ma túy dạng khay thì được T1 báo giá 4.500.000 đồng. T đồng ý mua, nói T1 giao ma túy đến nhà cho mình. Khoảng 30 phút sau, T1 mang ma túy đến giao và ném vào trong sân nhà T. T nhận ma túy và hẹn ngày hôm sau sẽ chuyển khoản thanh toán tiền mua ma túy cho T1. Sau đó, T đem ma tuý lên phòng cho cả nhóm cùng nhau sử dụng. Trong lúc sử dụng ma túy, P1 gọi điện thoại rủ bạn là Lê Trần Hồng N và Nguyễn Thị Quỳnh N1 đến chơi cùng. Khoảng 02h30' cùng ngày, N và Như đến. P1 liên hệ với 01 đối tượng (chưa rõ lai lịch) mua 01 bình bóng cười cho N và N1 sử dụng. Sau đó, T bẻ 01 viên thuốc lắc thành 02 mảnh đưa cho N và Như mỗi người một mảnh để sử dụng. Khoảng 03h00' cùng ngày, P1 có việc nên về trước. T, H, C, P, N và N1 tiếp tục sử dụng ma túy đến 06h00' ngày 20/4/2024, thì bị Công an bắt quả tang đang sử dụng ma túy, thu giữ tang vật như trên.
* Kết luận giám định số 261/KL-KTHS-MT ngày 26/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh B (BL 31) đối với tang vật thu giữ của Lê Đức T:
- “- Mẫu A1 có khối lượng 1,9737 gam, là ma túy loại Ketamine;
- - Mẫu A2 có khối lượng 1,3810 gam, là ma túy, loại MDMA;
- - Mẫu A3 có khối lượng 0,0966 gam, là ma túy, loại Ketamine.”
Quá trình điều tra, Lê Đức T khai nhận hành vi cung cấp địa điểm, ma túy, dụng cụ sử dụng ma túy cho Hà Ngọc H, Nguyễn Minh C, Nguyễn Bùi Bảo P, P1, Lê Trần Hồng N và Nguyễn Thị Quỳnh N1 sử dụng; công nhận kết quả giám định. Lời khai của T phù hợp với lời khai người làm chứng, người có liên quan, người chứng kiến, phù hợp với vật chứng thu giữ.
* Vật chứng vụ án: Đã chuyển giao, bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, chờ xử lý gồm:
- 2,0703 gam ma túy loại Ketamine; 1,3810 gam ma túy loại MDMA thu giữ của Lê Đức T, cơ quan giám định đã sử dụng trong quá trình giám định, còn lại 01 phong bì niêm phong vụ số: 261/KL-KTHS-MT ngày 26/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh B;
- 02 túi nylon dạng túi zip (không chứa gì);
- 01 đĩa sứ màu trắng;
- 01 loa màu đen;
- 03 chiếc đèn (gồm 02 chiếc màu trắng, 01 chiếc màu xám);
- 01 tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng được quấn thành dạng ống hút;
- 01 thẻ ngân hàng tên LE DUC THANG, số thẻ 5268870001323676;
- 01 điện thoại iPhone màu vàng, IMEI: 352828110828446;
- 02 bình kim loại màu xanh.
Đối với 01 xe mô tô Honda Airblade màu đen biển số 72C2-142.20, số máy: JF63E-2375696, số khung: RLHJF6321JZ thu giữ của Lê Đức T: Ngày 06/5/2024, Cơ quan Công an đã ra Quyết định xử lý tài sản trả lại cho mẹ của T là bà Lưu Thị O (sinh năm 1965, cư trú: 3 B, phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu).
2. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 368/2024/HS-ST ngày 12 tháng 11 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã quyết định: Tuyên bố Lê Đức T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lê Đức T 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù, tính từ ngày 20/4/2024.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
3. Ngày 18/11/2024, bị cáo Lê Đức T kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
4. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên kháng cáo, khai nhận hành vi phạm tội.
5. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm xét xử vụ án:
Về tố tụng: Bị cáo Lê Đức T có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung: Toà án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Lê Đức T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo 07 (Bảy) năm 06 (S) tháng tù là phù hợp với nhân thân, tính chất, mức độ nguy hiểm trong hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo; xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không cung cấp thêm chứng cứ hay tài liệu nào mới để xem xét cho kháng cáo của bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
6. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, nói lời sau cùng thể hiện thái độ ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định của pháp luật về chủ thể, hình thức và nội dung đơn kháng cáo, là kháng cáo hợp lệ, được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về tội danh và Điều luật áp dụng:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm và lời khai trong quá trình điều tra cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Từ đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 01h00' ngày 20/4/2024, tại nhà số C H, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Lê Đức T bị phát hiện, bắt quả tang khi cung cấp chất ma túy, địa điểm, dụng cụ dùng vào việc sử dụng ma túy để đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể của 06 người gồm: Hà Ngọc H, Nguyễn Minh C, Nguyễn Bùi Bảo P, P1, Lê Trần Hồng N và Nguyễn Thị Quỳnh N1.
Toà án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Lê Đức T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương, là một trong những nguyên nhân làm gia tăng các loại tội phạm khác và tệ nạn xã hội. Là công dân trưởng thành, phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần, bị cáo nhận thức rõ hành vi tổ chức sử dụng ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý cung cấp chất ma túy, địa điểm và dụng cụ sử dụng ma túy cho nhiều người khác cùng sử dụng, cố tình vi phạm pháp luật.
Tòa án cấp sơ thẩm nhận định bị cáo Lê Đức T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là lao động chính trong gia đình phải nuôi mẹ già đau yếu, nhưng không áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù đối với bị cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo bổ sung các tình tiết chứng cứ mới thể hiện: bị cáo là lao động chính duy nhất trong gia đình có hoàn cảnh khó khăn, trực tiếp nuôi dưỡng mẹ già, là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự làm căn cứ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Qua xem xét việc bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, trong đó có tình tiết giảm nhẹ bị cáo mới cung cấp và Toà án cấp sơ thẩm chưa xem xét, nên Hội đồng xét xử quyết định chấp nhận kháng cáo của bị cáo về việc xin giảm nhẹ hình phạt, sửa quyết định của bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo, ấn định mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện, nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đủ để phát huy tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục và đấu tranh phòng ngừa chung, đồng thời nêu cao tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
[5] Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Đức T, sửa quyết định của bản án sơ thẩm số 368/2024/HS-ST ngày 12 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về hình phạt như sau:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Đức T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lê Đức T 07 (B) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/4/2024.
- Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm số 368/2024/HS-ST ngày 12 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Lê Đức T không phải nộp.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (11/3/2025).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Minh Bắc |
Bản án số 28/2025/HS-PT ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU về vụ án hình sự phúc thẩm về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 28/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Đức T - Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
