|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 28/2025/HS-PT Ngày 07 tháng 3 năm 2025. |
---------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thành Trung.
Thẩm phán:
- - Bà Bùi Thị Bích Liễu
- - Bà Huỳnh Thị Xuân Oanh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Hoàng – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Võ Văn Thành - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 06 và 07 tháng 3 năm 2025, tại trụTòa án nhân dân tỉnh K xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 123/2024/TLPT-HS ngày 14 tháng 8 năm 2024, đối với các bị cáo Nguyễn Đăng T và Trần Quốc H, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 69/2024/HS-ST ngày 04 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
Các Bị cáo có kháng cáo:
-
Nguyễn Đăng T, sinh ngày 10 tháng 3 năm 2001, tại: Đồng Nai; nơi thường trú: Số A đường T, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; chỗ ở: Số F đường N, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quốc V và bà Nguyễn Thị Quỳnh M. Chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Không.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam.
Có mặt tại phiên tòa.
-
Trần Quốc H, sinh ngày 08 tháng 01 năm 2002, tại: Khánh Hòa; nơi thường trú: Thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Quốc H1 và bà Lâm Đặng Minh N. Chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Không.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam.
Có mặt tại phiên tòa.
Các bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, không bị kháng nghị:
-
Nguyễn Đức H2, sinh ngày 11 tháng 02 năm 1996, tại: Khánh Hòa; nơi thường trú: Số A đường T, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; chỗ ở: Số E đường T, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị C. Chưa có vợ, con.
Tiền sự: Không.
Tiền án: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2014/HSST ngày 18 tháng 3 năm 2014, Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xử phạt Nguyễn Đức H2 10 (mười) năm tù về tội "Giết người" theo điểm n khoản 1 Điều 93 của Bộ luật hình sự năm 1999. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 08 tháng 7 năm 2019.
Nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 191/2021/HS-ST ngày 24 tháng 11 năm 2021, Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xử phạt Nguyễn Đức H2 04 (bốn) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 (dẫn chiếu các điểm a và i khoản 1) Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 1999.
Bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam A – Bộ C1.
Vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt.
-
Nguyễn Tấn H3, sinh ngày 15 tháng 10 năm 1995, tại: Khánh Hòa; nơi thường trú: Thôn X, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh hòa; chỗ ở: Số D đường L, thôn P, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Làm tóc; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tấn H4 và bà Huỳnh Thị Lệ H5. Chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Không.
Bị cáo đang chấp hành án tại Phân trại tạm giam khu vực N - Trại Tạm giam Công an tỉnh K.
Vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt.
-
Nguyễn Hữu Đ, sinh ngày 26 tháng 6 năm 2000, tại : Khánh Hòa; nơi thường trú: Số B đường B, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu Đ1 và bà Nguyễn Thị Kim L. Chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Không.
Bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam A – Bộ C1.
Vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Trần Quốc H: Ông Lê Văn T2 – Luật sư của Văn phòng L2, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh K.
Có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng:
-
Ông Nguyễn Xuân S, sinh năm: 1995; nơi cư trú: Tổ A N, phường N, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
Vắng mặt tại phiên tòa.
-
Ông Huỳnh Ngọc Minh T3, sinh năm: 1996; nơi cư trú: Số I đường V, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
Vắng mặt tại phiên tòa.
-
Ông Nguyễn Thành Đ2, sinh năm: 2001; nơi cư trú: Số D đường L, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
Vắng mặt tại phiên tòa.
-
Ông Thân Đức P, sinh năm: 2002; nơi cư trú: Số B đường T, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
Vắng mặt tại phiên tòa.
-
Ông Trương Anh V1, sinh năm: 1994; nơi cư trú: Tổ G đường H, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mâu thuẫn từ trước với Nguyễn Xuân S nên khoảng 21 giờ 00 phút ngày 28 tháng 10 năm 2020, Nguyễn Đức H2 hẹn S đến khu vực cầu H, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa để đánh nhau. Khi đi H2 gọi điện thoại rủ Nguyễn Tấn H3 tham gia, Hiệp đồng Ý. H3 rủ thêm Trần Quốc H, Nguyễn Hoàng Trung N1 (đã chết ngày 21 tháng 8 năm 2022), Nguyễn Đăng T, Nguyễn Hữu Đ và một số nam thanh niên (chưa rõ nhân thân lai lịch) đi đánh nhau, tất cả đều đồng ý và hẹn tập trung tại khu vực Lò H đường N, thành phố N để phân phát hung khí. H3 mang 05 cây mác, T điều khiển xe máy chở Đ mang bao hung khí gồm rựa, đao, kiếm, mác và dao đến phát cho cả nhóm sử dụng. H2 gọi điện thoại hẹn S ra khu vực bờ kè đường X để đánh nhau. Sau đó, H2 cầm 01 dao cán gỗ và 01 cây đao điều khiển xe đi trước, H điều khiển xe máy chở N1 cầm 01 cây mác và 01 cây dao phóng lợn. H3 cầm 01 cây mác, T cầm 01 cây mác, Đ cầm 01 cây đao tự chế, số hung khí còn lại cả nhóm cất giấu tại hẻm F đường N, phường V, thành phố N. Tiếp đến, tất cả điều khiển xe máy chở nhau ra khu vực đường X tìm nhóm S đánh nhau. Khi đến trước quán ăn - đường X, phường X, cả nhóm thấy nhóm thanh niên khoảng 15 người (chưa rõ nhân thân lai lịch) cũng tập trung tại đây. Hai nhóm hô “tụi nó kìa” rồi xông vào đánh nhau. Khi thấy nhóm thanh niên dùng súng bắn 4, 5 phát về phía nhóm mình, nhóm H2 hoảng sợ bỏ chạy. Nhóm thanh niên kia rượt đuổi nhóm H2, H2 cầm hung khí quay lại đánh. T điều khiển xe máy chở Đang bỏ chạy, vứt hung khí tại hiện trường. Hào hoảng sợ vứt xe máy bỏ chạy thì được N1 đưa 01 cây mác, H dùng mác ném về phía nhóm thanh niên kia. T thấy H2 lấy súng bắn về phía nhóm thanh niên kia nên cầm mác chạy đến đánh thì bị nhóm kia cầm súng bắn, T vứt lại hung khí rồi bỏ chạy, còn N1 bị bắt giữ cùng tang vật.
Qua truy xét, Cơ quan điều tra đã đưa Nguyễn Hoàng Trung N1, Nguyễn Đức H2, Nguyễn Tấn H3, Nguyễn Đăng T, Trần Quốc H, Nguyễn Hữu Đ về trụ sở làm việc.
Tại bản kết luận giám định số 706/GĐTP/2020 ngày 24 tháng 12 năm 2020, Phòng K - Công an tỉnh K kết luận: 04 vỏ đạn bằng kim loại hình trụ kích thước (1,5x0,4)cm, màu vàng đồng, là vỏ của loại đạn công cụ hỗ trợ (9x22)mm, không phải đạn quân dụng, được bắn ra từ loại súng có cỡ nòng 9mm, 04 vỏ đạn do cùng một khẩu súng bắn ra.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 69/2024/HS-ST ngày 04 tháng 4 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa đã quyết định:
- - Xử phạt các bị cáo Nguyễn Đăng T 02 (hai) năm tù; Trần Quốc H 02 (hai) năm tù; Nguyễn Đức H2 03 (ba) năm 6 (sáu) tháng tù; Nguyễn Hữu Đ 02 (hai) năm 6 (sáu) tháng tù và Nguyễn Tấn H3 02 (hai) năm 6 (sáu) tháng tù, cùng về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự.
- - Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 10 tháng 4 năm 2024, bị cáo Nguyễn Đăng T kháng cáo bản án sơ thẩm đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm cho bị cáo được hưởng án treo.
Ngày 19 tháng 4 năm 2024, bị cáo Trần Quốc H kháng cáo bản án sơ thẩm đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giảm hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo
Phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa về việc giải quyết vụ án, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại do cấp sơ thẩm điều tra không đầy đủ, có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm.
Trình bày lời bào chữa:
- - Bị cáo Nguyễn Đăng T giữ nguyên nội dung kháng cáo.
- - Bị cáo Trần Quốc H và Luật sư Lê Văn T2 đề nghị: Hủy bán án sơ thẩm để điều tra lại do cấp sơ thẩm bỏ lọt tội phạm đối với những người tham gia đánh nhau ở cả hai nhóm ngoài những bị cáo đã bị truy tố, xét xử.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
1.1 Các bị cáo Nguyễn Đăng T và Trần Quốc H kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn luật định, nên nội dung kháng cáo của các bị cáo được cấp phúc thẩm xem xét.
1.2 Các bị cáo Nguyễn Đức H2 và Nguyễn Hữu Đ không có kháng cáo; bị cáo Nguyễn Tấn H3 có kháng cáo nhưng đã rút kháng cáo và Tòa án cấp phúc thẩm đã đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với H3. Tuy vậy, qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, thấy việc xem xét kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Đăng T và Trần Quốc H có liên quan đến các bị cáo này. Căn cứ quy định tại Điều 345 và khoản 2 Điều 351 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án cấp phúc thẩm quyết định đưa các bị cáo Nguyễn Đức H2, Nguyễn Hữu Đ và Nguyễn Tấn H3 tham gia tố tụng tại phiên tòa phúc thẩm.
1.3 Các bị cáo Nguyễn Đức H2, Nguyễn Hữu Đ và Nguyễn Tấn H3 vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; những người làm chứng được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa phúc thẩm đều vắng mặt nhưng đã có lời khai tại cơ quan điều tra và việc vắng mặt của họ không trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ quy định tại điểm c khoản 2 điều 290, Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Tòa án tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
[2]. Về nội dung vụ án:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Đăng T và Trần Quốc H đã khai nhận những hành vi mà các bị cáo đã thực hiện đúng như bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai lời khai của các bị cáo khác trong vụ án cùng với các chứng cứ do Cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập được có trong hồ sơ. Do đó, đủ cơ sở để kết luận:
Ngày 28 tháng 10 năm 2020, các bị cáo Nguyễn Đăng T và Trần Quốc H tham gia tập trung băng nhóm cùng các bị cáo Nguyễn Đức H2, Nguyễn Hữu Đ và Nguyễn Tấn H3 và nhiều người khác, mang theo hung khí đánh nhau với nhiều người khác tại trước quán - đường X, phường X, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội đến mức phải xử lý hình sự. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm kết án các bị cáo về tội “Gây rối trật công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự là có căn cứ.
Tuy nhiên, xem xét toàn diện vụ án, Hội đồng xét xử thấy: Trong vụ án này, ngoài các bị cáo đã bị truy tố và xét xử, còn nhiều người khác có dấu hiệu đồng phạm hoặc cùng tham gia đánh nhau với nhóm các bị cáo cũng cần phải xử lý hình sự. Mặc dù đã được Tòa án cấp sơ thẩm nhiều lần trả hồ sơ đề nghị xem xét xử lý nhưng không được điều tra triệt để nên có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm đối với những người khác, cụ thể là:
Nguyễn Xuân S (thường gọi là Bi nhóc) được xác định là người có mâu thuẫn với Nguyễn Đức H2 nên cả hai hẹn gặp mặt để đánh nhau. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến vụ án. Tại hiện trường cũng có nhóm khoảng 15 người có mặt tại điểm hẹn giữa H2 và S, cũng mang theo hung khí để đánh nhau đúng như mô tả của H2 và những bị cáo khác. Lời khai của các bị cáo H2, T, S và Đ (bút lục 36, 37, 122, 124, 126, 129, 238 và 243) đều khẳng định S có mặt tại hiện trường. Làm việc với S, S không thừa nhận việc tham gia đánh nhau và khai: Tối ngày 23 tháng 10 năm 2020, S cùng vợ là Lưu Thị Hàng N2 đang ở tại nhà bà L1 – số B đường B, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên (bút lục 277, 279). Tình tiết này chưa được điều tra làm rõ, nên chưa đủ cơ sở xác định S có chứng cứ ngoại phạm.
Thân Đức P không có mặt tại hiện trường, lý do theo P khai: Vì không có xe, chờ người qua chở đi nhưng đến giờ hẹn không thấy ai chở nên đi ngủ (bút lục 287, từ 290 đến 294). Tuy vậy, lời khai của Nguyễn Đức H2 (bút lục 33, 34), Nguyễn Hữu Đ (bút lục 239, 244), Nguyễn Đăng T, Trần Quốc H (các bút lục 125, 199, 205 và tại phiên tòa phúc thẩm) và của chính Thân Đức P (bút lục 287, từ 290 đến 294) cho thấy: P là người lập nhóm trò chuyện trên mạng xã hội để mời những người quen vào tham gia cùng các bị cáo thảo luận việc đánh nhau, hẹn thời gian địa điểm tập trung để đi đánh nhóm S. Như vậy, Thân Đức P có dấu hiệu đồng phạm với vai trò giúp sức.
Người chỉ tên “Duy M1” được các bị cáo Nguyễn Đăng T xác định là bạn của bị cáo, có nhà ở đường H, thành phố N cũng có mặt tham gia đánh nhau tại hiện trường (bút lục 519 và tại phiên tòa phúc thẩm); nhận dạng qua hình ảnh hiện trường do người dân đăng trên mạng xã hội (bút lục 85), các bị cáo H3 và Đ cũng nhận ra “Duy Minh” (bút lục 165, 249) có tham gia đánh nhau. Tuy nhiên, khi điều tra về người này, cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh (bút lục 528) nhưng không được thực hiện một cách kỹ lưỡng dẫn đến bỏ qua vai trò của “Duy Minh”.
Đinh Quang T4 – cư trú tại đường L, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa, được Nguyễn Đăng T, Nguyễn Hữu Đ (bút lục 121, 123, 519, 521) và chính T4 (bút lục 523, 525) cũng xác nhận có tham gia vào nhóm trò chuyện trên mạng xã hội bàn việc giúp H2 đánh nhau. Vì vậy, cũng cần xem xét trách nhiệm hình sự của T4 đối với hành vi này.
Ngoài ra, theo lời khai của Nguyễn Tấn H3 (bút lục 518), H3 có rủ thêm “Tám cá chép” - ở P, Ú - ở Diên phú, D; D3 - ở S, T5 - ở S, C và T6 - ở D. Cơ quan điều tra cho rằng đã tiến hành xác minh nhân thân, lai lịch của những người này, song trong hồ sơ vụ án không có tài liệu chứng minh. Hơn nữa, tại bản kết luận điều tra bổ sung số 13/BKL-ĐCSHS ngày 11 tháng 01 năm 2024 (bút lục 529), có nêu: “kết quả xác minh tại Công an phường P xác định các đối tượng Tám C, D3, T5, T6, Ú không rõ nhân thân lai lịch” trong khi không ai có địa chỉ tại phường P. Do đó, việc xác minh của cơ quan điều tra (nếu có) cũng là không chính xác, nhất thiết phải tiến hành điều tra lại.
Từ những nhận định trên cho thấy: Do việc điều tra không được đầy đủ dẫn đến có dấu hiệu bỏ lọt người phạm tội, vì vậy phải hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ cho cấp sơ thẩm để điều tra lại.
[3]. Về án phí:
Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 345; Điểm c khoản 1 Điều 355 và điểm a khoản 1 Điều 358 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Hủy toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm số 69/2024/HS-ST ngày 04 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
- Giao hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa để điều tra lại theo thủ tục chung.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 07 tháng 3 năm 2025).
Nơi nhận:
|
- Vụ GĐKT I – TANDTC; - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa; - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ - Công an tỉnh Khánh Hòa; - TAND thành phố Nha Trang; - VKSND thành phố Nha Trang; - Trại giam A2 – Bộ Công an; - Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Khánh Hòa; - Cơ quan thi hành án hình sự - Công an tỉnh Khánh Hòa; - Trại tạm giam – Công an tỉnh Khánh Hòa; - Phân trại tạm giam khu vực Nha Trang, thuộc Trại tạm giam – Công an tỉnh Khánh Hòa; - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang; - Các bị cáo có kháng cáo; - Các bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, không bị kháng nghị; - Lưu hồ sơ, án văn. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thành Trung |
Bản án số 28/2025/HS-PT ngày 07/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 28/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 07/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đăng Trường và đồng phạm gây rối trật tự công cộng
