Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2025/HS-PT

Ngày: 15-4-2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Minh Thư

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hà Ngân

Bà Trần Thị Thu Hiền

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Thành, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Trần Tiến Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 08/2025/TLPT-HS ngày 05 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo Hoàng Thị H và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 47/2024/HS-ST ngày 31 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.

Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Hoàng Thị H, sinh ngày: 20/10/1973 tại huyện N, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Văn B (đã chết) và bà Hoàng Thị P; Chồng Lê Văn V và có 04 con, lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 2007; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 07/9/2024 đến ngày 13/9/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.

  2. Nguyễn Thị L, sinh ngày: 10/02/1982 tại huyện N, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Thôn N, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn N và bà Trần Thị Q; Chồng Hoàng Quốc H1 và có 02 con, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 07/9/2024 đến ngày 13/9/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.

  3. Hoàng Thị N1, sinh ngày: 09/3/1990 tại huyện N, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Thôn B, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Văn T và bà Nguyễn Thị T1; Chồng Nguyễn Văn B1 và có 02 con, lớn nhất sinh năm 2018, nhỏ nhất sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Ngày 17/02/2022, bị Công an huyện N, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500 000 đồng về hành vi "Đánh bạc" theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 06, đã chấp hành xong ngày 25/02/2022.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 07/9/2024 đến ngày 13/9/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.

  4. Nguyễn Thị P1, sinh ngày: 12/5/1990 tại huyện N, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Thôn B, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T2 và bà Nguyễn Thị L; Chồng Trương Mạnh H2 và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Ngày 17/02/2022, bị Công an huyện N, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi "Đánh bạc" theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 05, đã chấp hành xong ngày 25/02/2022.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 07/9/2024 đến ngày 13/9/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.

Các bị cáo đều có mặt tại phiên tòa.

Trong vụ án còn có các bị cáo khác nhưng không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập đến phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, bản án sơ thẩm và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Thị H3 làm nghề buôn bán cá tại nhà thuộc thôn N, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Ngày 05/9/2024, H3 mua 02 bộ bài T3 lơ khơ tại chợ C2 về cất tại giường phòng ngủ nhà mình để cho khách đến mua cá đánh bạc nhằm thu tiền “Hồ”. Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 07/9/2024, Hoàng Thị H, Nguyễn Thị H4, Trần Thị Q, Hoàng Thị N1, Nguyễn Thị P1 đến chơi và mua cá của H3. Quá trình ngồi nói chuyện mọi người rủ nhau đánh bạc bằng hình thức đánh bài “Mười” và được H3 đồng ý thì mọi người đi vào phòng ngủ nhà H3 đánh bạc. Lúc đó, khoảng 14 giờ cùng ngày, Nguyễn Thị L cũng đến chơi, thấy mọi người đang chuẩn bị đánh bạc, nên vào tham gia cùng. H lấy 02 bộ bài để sẵn trên giường ngủ, lọc bỏ các quân bài 10, J, Q, K ra khỏi 02 bộ bài đó, rồi lấy 01 bộ chia cho mọi người cùng đánh, còn một bộ bỏ ra ngoài, chưa sử dụng.

Hình thức đánh: Sử dụng 01 bộ bài Tú lơ khơ (còn lại 36 quân bài) gồm các quân A, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8 và 9, với các ký hiệu B2, C, C1, R. Khi chơi, người cầm bài (ván đầu tiên là ngẫu nhiên và sau đó là người thắng ván bài vừa xong) sẽ chia cho mỗi người chơi 03 quân bài, theo thứ tự từ trái qua phải. Trước khi chia bài, mỗi người chơi sẽ đặt số tiền 50.000 đồng giữa chiếu gọi là tiền “Gom tẩy”. Chia bài xong, thì người chơi sẽ cầm bài lên và thông báo cho mọi người biết để xác định thắng thua trong ván bài đó. Quy ước được đặt ra từ trước, là ván nào có người được điểm 9, hoặc 10, hoặc có “Dọc” ba quân bài liền kề nhau, hoặc “Sáp” ba quân bài cùng hàng mới được xác định là thắng. Còn lại sẽ được tính là hòa, phải chơi lại. Điểm được tính bằng tổng giá trị 03 quân bài cộng lại là 9 hoặc 10 điểm; tiếp theo là “Dọc”, có ba quân bài liền kề nhau, có cùng chất bài; tiếp theo nữa là "Sáp", có ba quân bài cùng hàng. Trong ván bài, nếu nhiều người chơi có cùng điểm 9 hoặc điểm 10 hoặc có cùng “Dọc”, cùng "sáp" thì bài người nào có quân bài Rô cao hơn là người đó thắng. Người chơi được 9 điểm hoặc 10 điểm mà thắng, thì tự lấy ra số tiền 50.000 đồng, hoặc nếu người chơi có “Dọc”, hoặc “Sáp” sẽ lấy số tiền 100.000 đồng, để lại chiếu đánh tiếp. Riêng đối với người chơi có “Sáp” thì những người chơi khác phải trả thêm cho người có “Sáp” 50.000 đồng và người có “Sáp” sẽ tự lấy ra số tiền 50.000 đồng gọi là tiền “Hồ” cho H3. Các ván bài sẽ được tiếp tục khi mỗi người chơi bỏ vào 50.000 đồng tiền “Gom tẩy”.

Khoảng 14 giờ 15 phút cùng ngày, Lê Thị N2, Dương Thị Li N3, Hoàng Thị H5 đến và khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày thì Trương Thị H6 đến thấy những người trên đang đánh bạc, nên cũng vào tham gia đánh cùng. Quá trình đánh bạc, đã thu được 200.000 đồng tiền “Hồ”, nhưng do N2 đang bị thua, nên đã mượn số tiền này để tiếp tục đánh bạc. Đến khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày, thì bị lực lượng Công an huyện N bắt quả tang, thu giữ 02 bộ bài tú lơ khơ, mỗi bộ C3 quân bài và tổng số tiền 26.130.000 đồng. Trong đó, thu giữ tại chiếu bạc số tiền 24.050.000 đồng; thu giữ trên người Hoàng Thị H5 2.000.000 đồng, Hoàng Thị N1 30.000 đồng và Nguyễn Thị H7 50.000 đồng.

Quá trình điều tra xác định, số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 26.130.000 đồng, cụ thể như sau: Dương Thị Li N3 sử dụng 2.820.000 đồng; Hoàng Thị H5 sử dụng 3.970.000 đồng; Hoàng Thị H sử dụng 3.170.000 đồng; Lê Thị N2 sử dụng 1.270.000 đồng; Nguyễn Thị H4 sử dụng 1.770.000 đồng; Nguyễn Thị L sử dụng 4.570.000 đồng; Nguyễn Thị P1 sử dụng 1.120.000 đồng; Nguyễn Thị Q1 sử dụng 1.270.000 đồng; Trương Thị H6 sử dụng 3.370.000 đồng; Hoàng Thị N1 sử dụng 2.800.000 đồng.

Với hành vi phạm tội nêu trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2024/HS-ST ngày 31 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh đã quyết định:

  1. Về điều luật áp dụng:
  2. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, điểm đ khoản 1 Điều 32, Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Hoàng Thị N1, Nguyễn Thị P1, Hoàng Thị H, Nguyễn Thị L.

    Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38; Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Hoàng Thị H5 và Trương Thị H6.

    Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, điểm a khoản 1, khoản 3 Điều 35; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Lê Thị N2, Dương Thị Li N3, Trần Thị Q và Nguyễn Thị H4.

    Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Thị H3.

    Ngoài ra các bị cáo Lê Thị N2, Hoàng Thị N1, Hoàng Thị H và Hoàng Thị H5 áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

    Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 1, điểm a, b, c khoản 2, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Về án phí: Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 và mục A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án, ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Q2.

  3. Về tội danh:
  4. Tuyên bố bị cáo Lê Thị H3 phạm tội “Gá bạc”; các bị cáo Hoàng Thị N1, Nguyễn Thị P1, Hoàng Thị H, Nguyễn Thị L, Hoàng Thị H5, Trương Thị H6, Lê Thị N2, Dương Thị Li N3, Trần Thị Q và Nguyễn Thị H4 phạm tội “Đánh bạc”.

  5. Về hình phạt chính:
    • 3.1. Xử phạt bị cáo Hoàng Thị H 09 (Chín) tháng tù nhưng được trừ thời giam tạm giữ từ ngày 07/9/2024 đến ngày 13/9/2024, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.
    • 3.2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 09 (Chín) tháng tù nhưng được trừ thời giam tạm giữ từ ngày 07/9/2024 đến ngày 13/9/2024, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.
    • 3.3. Xử phạt bị cáo Hoàng Thị N1 10 (Mười) tháng tù nhưng được trừ thời giam tạm giữ từ ngày 07/9/2024 đến ngày 13/9/2024, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.
    • 3.4. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị P1 07 (Bảy) tháng tù nhưng được trừ thời giam tạm giữ từ ngày 07/9/2024 đến ngày 13/9/2024, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.
    • 3.5. Xử phạt Lê Thị H3 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    • 3.6. Xử phạt Trương Thị H6 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    • 3.7. Xử phạt Hoàng Thị H5 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao các bị cáo Lê Thị H3, Trương Thị H6, Hoàng Thị H5 cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục các bị cáo.

    Các bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

    Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    • 3.8. Xử phạt Dương Thị Li N3 35.000.000đ (Ba mươi lăm triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
    • 3.9. Xử phạt Lê Thị N2 25.000.000₫ (Hai mươi lăm triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
    • 3.10. Xử phạt Trần Thị Q 25.000.000₫ (Hai mươi lăm triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
    • 3.11. Xử phạt Nguyễn Thị H4 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
  6. Về hình phạt bổ sung:
  7. Phạt tiền 10.000.000 đồng đối với các bị cáo Hoàng Thị N1, Nguyễn Thị P1, Hoàng Thị H, Nguyễn Thị L để sung công quỹ nhà nước; Phạt tiền 15.000.000 đồng đối với các bị cáo Hoàng Thị H5 và Trương Thị H6 để sung công quỹ nhà nước.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Trong hạn luật định, các bị cáo Hoàng Thị H, Nguyễn Thị L, Hoàng Thị N1 và Nguyễn Thị P1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Hoàng Thị H, Nguyễn Thị L, Hoàng Thị N1 và Nguyễn Thị P1 vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích, đánh giá các tình tiết của vụ án đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; khoản 2 Điều 35; Điều 65 Bộ luật hình sự: Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Hoàng Thị H, Nguyễn Thị L, Hoàng Thị N1 và Nguyễn Thị P1, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 47/2024/HS-ST ngày 31 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh về phần hình phạt đối với các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  • [1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị cáo làm trong hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
  • [2] Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với thời gian, địa điểm phạm tội và vật chứng bị thu giữ. Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng 14 giờ ngày 07/9/2024, được sự đồng ý của chủ nhà (Lê Thị H3), Hoàng Thị H, Nguyễn Thị H4, Trần Thị Q, Hoàng Thị N1, Nguyễn Thị P1 rủ nhau đánh bạc với hình thức đánh bài “Mười”. Sau đó có Nguyễn Thị L, Lê Thị N2, Dương Thị Li N3, Hoàng Thị H5 và Trương Thị H6 đến và cùng tham gia đánh bạc tại nhà Lê Thị H3 ở thôn N, xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh cho đến khoảng 15 giờ cùng ngày thì bị lực lượng Công an huyện N phát hiện, bắt quả tang thu giữ số tiền: 26.130.000 đồng; 02 bộ bài T3 lơ khơ, mỗi bộ có 36 quân bài. Trong đó, thu giữ tại chiếu bạc số tiền 24.050.000 đồng; thu giữ trên người Hoàng Thị H5 2.000.000 đồng, Hoàng Thị N1 30.000 đồng và Nguyễn Thị H7 50.000 đồng. Do đó bản án hình sự sơ thẩm số 47/2024/HS-ST ngày 31 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh tuyên bố các bị cáo Hoàng Thị H, Nguyễn Thị L, Hoàng Thị N1 và Nguyễn Thị P1 phạm tội “Đánh bạc” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.
  • [3] Xét nội dung kháng cáo của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi cá nhân nên vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của các bị cáo làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn, gây dư luận xấu trong nhân dân. Quá trình xét xử cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Do đó, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, riêng bị cáo Hoàng Thị N1 và Hoàng Thị H được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tại cấp phúc thẩm, bị cáo Hoàng Thị H xuất trình thêm giấy xác nhận của Bệnh viện Đa khoa tỉnh N bị U não sọ trái tái phát; có mẹ đẻ là bà Hoàng Thị P được hưởng chính sách như Thương binh, được nhận trợ cấp thương tật; tự nguyện nộp 10.000.000 đồng tiền phạt bổ sung theo biên lai thu tiền số 0004311 ngày 09/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghi Xuân. Bị cáo Nguyễn Thị L tự nguyện nộp 10.000.000 đồng tiền phạt bổ sung theo biên lai thu tiền số 0004310 ngày 06/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghi Xuân. Bị cáo Hoàng Thị N1 tự nguyện nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 10.000.000 đồng tiền phạt bổ sung theo biên lai thu tiền số 0004296 ngày 31/12/2024 và biên lai thu tiền số 0004309 ngày 06/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghi Xuân; có bố đẻ là Hoàng Văn T được hưởng trợ cấp một lần tham gia chiến tranh bảo vệ tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế, được tặng thưởng nhiều giấy khen; có chồng là Nguyễn Văn B1 bị suy thận mãn giai đoạn cuối phải chạy thận nhân tạo 03 lần/tuần (có xác nhận của Bệnh viện Đ); bị cáo đang nuôi con nhỏ (Nguyễn Tuấn K sinh ngày 18/12/2023). Bị cáo Nguyễn Thị P1 tự nguyện nộp 10.000.000 đồng tiền phạt bổ sung theo biên lai thu tiền số 0004308 ngày 06/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh để cấp phúc thẩm xem xét.

Xét thấy, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng, điều kiện hoàn cảnh khó khăn. Sau khi phạm tội, các bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật tự nguyện nộp toàn bộ số tiền phạt bổ sung. Do đó, trên cơ sở xem xét đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo được hưởng, Hội đồng xét xử, xét thấy chưa cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà căn cứ Điều 65 Bộ luật hình sự cho các bị cáo được hưởng án treo, giao các bị cáo cho Chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục cũng đủ nghiêm, có tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật nhà nước ta.

Từ những phân tích trên và xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là có căn cứ nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Hoàng Thị H, Nguyễn Thị L, Hoàng Thị N1 và Nguyễn Thị P1.

  • [4] Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án, do kháng cáo được chấp nhận nên các bị cáo Hoàng Thị H, Nguyễn Thị L, Hoàng Thị N1 và Nguyễn Thị P1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận nội dung kháng cáo của các bị cáo Hoàng Thị H, Nguyễn Thị L, Hoàng Thị N1 và Nguyễn Thị P1. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2024/HS-ST ngày 31 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh về phần hình phạt đối với các bị cáo Hoàng Thị H, Nguyễn Thị L, Hoàng Thị N1 và Nguyễn Thị P1.
  2. Về tội danh:
  3. Tuyên bố các bị cáo Hoàng Thị H, Nguyễn Thị L, Hoàng Thị N1 và Nguyễn Thị P1 phạm tội “Đánh bạc”.

  4. Về hình phạt chính:
  5. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 65 và khoản 2 Điều 32 Bộ luật hình sự:

    • - Xử phạt bị cáo Hoàng Thị H 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
    • - Xử phạt bị cáo Hoàng Thị N1 10 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị P1 07 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

    Giao các bị cáo Hoàng Thị H, Nguyễn Thị L, Hoàng Thị N1, Nguyễn Thị P1 cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Chính quyền địa phương giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 87, Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

  6. Về hình phạt bổ sung:
  7. Phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo Hoàng Thị H, Nguyễn Thị L, Hoàng Thị N1 và Nguyễn Thị P1 mỗi bị cáo 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) nhưng được trừ vào số tiền mà các bị cáo đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh theo các biên lai thu tiền số 0004311 ngày 09/01/2025; số 0004310 ngày 06/01/2025; số 0004309 ngày 06/01/2025; số 0004308 ngày 06/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.

  8. Về án phí hình sự sơ thẩm:
  9. Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc các bị cáo Hoàng Thị N1, Nguyễn Thị P1, Hoàng Thị H, Nguyễn Thị L mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm (bị cáo Hoàng Thị N1 đã nộp đủ theo biên lai thu tiền số 0004296 ngày 31/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh).

  10. Về án phí hình sự phúc thẩm:
  11. Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Các bị cáo Hoàng Thị H, Nguyễn Thị L, Hoàng Thị N1 và Nguyễn Thị P1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

  12. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - PV06 - Công an tỉnh Hà Tĩnh;
  • - CA; VKS; TA; THA cấp sơ thẩm;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Minh Thư

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2025/HS-PT ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 28/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Thị H và đồng phạm phạm tội "Đánh bạc"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger