Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 28/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 30-05-2025

V/v Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Hữu Nam

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Hoàng Thị Phương Hiền
  2. Ông Châu Khắc Thái

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Thành, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Huế.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên tòa:

Bà Vũ Thị Liên Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 05 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Huế, số A T, quận T, thành phố H, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 61/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 06 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị H, sinh năm 1983; nơi cư trú: Tổ G, thị trấn P, huyện P, thành phố H; có mặt.

- Bị đơn: Ông Rút S, sinh năm 1976; quốc tịch: Campuchia; địa chỉ: Tổ G, thị trấn P, huyện P, thành phố H; vắng mặt .

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ khác thì bà Huỳnh Thị H trình bày như sau:

Bà H và ông S tự nguyện tìm hiểu nhau, sau một thời gian cả hai quyết định kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H) cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 21/05/2014. Thực tế họ đã sống chung với nhau từ năm 2003.

Sau khi kết hôn, cả hai chung sống với nhau tại huyện P, thành phố H. Trong quá trình sống chung thì xảy ra mâu thuẫn. Do không còn tiếng nói chung trong gia đình và thường xuyên xảy ra cãi vã và bị ông Rút S đánh đập nên bà H đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 2 người con chung là: anh Huỳnh Văn T, sinh ngày: 15/10/2004 và chị Huỳnh Thị Hoài T1, sinh ngày: 17/1/2007. Tuy nhiên, anh T và chị T1 đã đủ 18 tuổi nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn ông Rút S có lời khai thống nhất với lời khai của bà H về quá trình chung sống, kết hôn và con chung, tuy nhiên ông không đồng ý ly hôn với bà H vì ông vẫn thương yêu vợ, con. Nếu Tòa án cho ly hôn thì ông đề nghị giao cháu Huỳnh Thị Hoài T1 cho ông chăm sóc, nuôi dưỡng, không yêu cầu bà H cấp dưỡng cho con. Về tài sản chung và nợ chung: Ông khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa:

- Bà H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình, đề nghị được ly hôn với ông R sonl.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Huế có ý kiến như sau: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng trong vụ án đều tuân theo pháp luật tố tụng dân sự, không có vi phạm gì cần phải kiến nghị để khắc phục.

Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn, cho bà Huỳnh Thị H được ly hôn với ông Rút S.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và qua thẩm tra tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Ông Rút S là bị đơn trong vụ án không có yêu cầu phản tố và Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị H và ông Rút S kết hôn trên tinh thần tự nguyện, đã đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H) cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 21/05/2014 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Trước khi kết hôn bà H và ông Rút S đã sống với nhau như vợ chồng từ năm 2003 tại tỉnh Tây Ninh cho đến năm 2005 thì ra sống tại huyện P, thành phố H. Những năm gần đây vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không còn quan tâm lẫn nhau, tình cảm vợ chồng không còn và ông R sonl có hành vi bạo lực gia đình dẫn đến vợ chồng sống ly thân. Bà H sống tại thành phố Đà Nẵng, còn ông R sonl sống ở P, thành phố H. Ông R sonl cho rằng vẫn còn thương yêu vợ con, mong muốn vợ chồng đoàn tụ nhưng Tòa án đã nhiều lần triệu tập hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng ông không đến và cũng không có ý kiến gì, điều đó thể hiện thái không quan tâm, bỏ mặc.

Tòa án nhận thấy việc mâu thuẫn của bà H, ông Rút S đã kéo dài, ngày càng trầm trọng, không thể cùng nhau chung sống được, bà H ông Rút S không còn sống chung hay quan tâm gì đến nhau nữa nên mục đích hôn nhân không đạt được. Việc bà H xin ly hôn ông R sonl là có căn cứ, phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.2] Về con chung: Cả 2 người con chung là Huỳnh Văn T, sinh ngày 15/10/2004 và Huỳnh Thị Hoài T1, sinh ngày: 17/1/2007 đều đã đủ 18 tuổi nên Hội đồng xét xử không phải giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Huỳnh Thị H và ông Rút S đều khai không có tài sản chung, không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không phải giải quyết.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Huỳnh Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí về hôn nhân gia đình.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Điều 110, Điều 116, khoản 1 Điều 122, khoản 2 Điều 123, Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho Bà Huỳnh Thị H được ly hôn với ông Rút S.
  2. Về con chung: Cháu Huỳnh Văn T, sinh ngày: 15/10/2004 và cháu Huỳnh Thị Hoài T1, sinh ngày: 17/1/2007 đã đủ 18 tuổi nên Hội đồng xét xử không phải giải quyết.
  3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Huỳnh Thị H và ông Rút S đều xác định không có và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không phải giải quyết.
  4. Về án phí: Bà Huỳnh Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0000371 ngày 05/06/2023 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H). Bà H đã nộp đủ án phí.

Bà Huỳnh Thị H có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Rút S có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 1 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại Đà Nẵng;
  • - VKSNDCC tại Đà Năng;
  • - VKSND thành phố Huế;
  • - Cục THADS thành phố Huế;
  • - UBND huyện Phú Lộc, thành phố Huế;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu Hồ sơ, Tòa DS; HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Hữu Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2025/HNGĐ-ST ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 28/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: không quan tân nhau
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger