TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 28/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 28-02-2025
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hữu Phúc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lương Văn Cẩu
- Bà Nguyễn Thị Ngọc Thơ
- Thư ký phiên tòa: Bà Cù Thị Ngọc Hân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: không tham gia
Ngày 28 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 372/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 02 năm 20225, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Võ Thị Ngọc T, sinh năm 1983; Địa chỉ: Số nhà D, tổ B, ấp Đ, xã V, huyện C, tỉnh An Giang. (Có mặt)
- Bị đơn: Phạm Thanh Đ, sinh năm 1981; Địa chỉ: Số nhà D, tổ B, ấp Đ, xã V, huyện C, tỉnh An Giang. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 15/8/2024, quá trình tố tụng nguyên đơn bà Võ Thị Ngọc T trình bày:
- Về hôn nhân: bà và ông Phạm Thanh Đ do mai mối và được cha mẹ định đoạt nên đã sống chung từ năm 2003, có tổ chức lễ cưới, đến ngày 14/5/2024 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh An Giang. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông Phạm Thanh Đ không chăm lo cuộc sống gia đình, thường xuyên uống rượu chửi mắng và đánh đập bà nên ông bà luôn bất hòa, cuộc sống hôn nhân không còn được hạnh phúc. Bà và ông Phạm Thanh Đ không còn sống chung từ tháng 09/2024 đến nay. Hiện nay bà không còn tình cảm với ông Phạm Thanh Đ nên yêu cầu được ly hôn với ông Phạm Thanh Đ.
- Về con chung: có hai con chung tên Phạm Ngọc N, sinh ngày 02/7/2004 và Phạm Võ Huy H, sinh ngày 11/8/2016. Cháu Phạm Ngọc N đã thành niên, bà T yêu cầu được nuôi cháu Phạm Võ Huy H, không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng.
- Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại các biên bản hòa giải và quá trình tố tụng ông Phạm Thanh Đ trình bày:
- Về hôn nhân: ông thống nhất với lời trình bày của bà Võ Thị Ngọc T về thời gian và điều kiện kết hôn. Sau khi kết hôn thì vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn như bà T trình bày, ông xác nhận thường uống rượu nhưng không thường xuyên chửi mắng bà T, ông có chửi mắng bà T khi bức xúc chuyện gia đình. Hiện nay ông vẫn còn thương vợ nên không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà Võ Thị Ngọc T.
- Về con chung: có hai con chung tên Phạm Ngọc N, sinh ngày 02/7/2004 và Phạm Võ Huy H, sinh ngày 11/8/2016. Trường hợp Tòa án giải quyết cho bà T ly hôn thì ông yêu cầu được nuôi cháu Phạm Võ Huy H, không yêu cầu bà T cấp dưỡng, riêng cháu Phạm Ngọc N đã thành niên.
- Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết
* Tại tờ trình bày ý kiến ngày 06/01/2025 cháu Phạm Võ Huy H trình bày nguyện vọng được sống với mẹ sau khi cha mẹ ly hôn.
* Tại phiên tòa:
- Bà Võ Thị Ngọc T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không bổ sung gì thêm.
- Ông Phạm Thanh Đ giữ nguyên ý kiến đã trình bày trong quá trình tố tụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
1.1 Quan hệ tranh chấp: Tranh chấp giữa bà Võ Thị Ngọc T và ông Phạm Thanh Đ là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
1.2 Thẩm quyền giải quyết: ông Phạm Thanh Đ đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp Đ, xã V, huyện C, tỉnh An Giang. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
[2] Về nội dung tranh chấp:
2.1 Về hôn nhân: bà Võ Thị Ngọc T và ông Phạm Thanh Đ sống chung như vợ chồng từ năm 2003, có tổ chức lễ cưới, đăng ký kết hôn ngày 14/5/2024 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh An Giang nên được xác định là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhằm tạo điều kiện cho bà Võ Thị Ngọc T và ông Phạm Thanh Đ được đoàn tụ, nhưng bà Võ Thị Ngọc T vẫn cương quyết ly hôn. Ông Phạm Thanh Đ có trình bày tại các phiên hòa giải rằng ông còn tình cảm với bà Võ Thị Ngọc T và không đồng ý yêu cầu ly hôn của bà Võ Thị Ngọc T. Tuy nhiên Hội đồng xét xử nhận thấy hôn nhân là dựa trên cơ sở tình cảm và sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau giữa vợ và chồng, nhưng bà Võ Thị Ngọc T trình bày không còn tình cảm với ông Phạm Thanh Đ, hai bên không còn sống chung từ tháng 9 năm 2024 đến nay, ông Phạm Thanh Đ không đồng ý ly hôn nhưng không có biện pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng từ khi ông bà không còn sống chung đến nay. Như vậy hôn nhân của ông bà đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Võ Thị Ngọc T.
2.2 Về con chung: bà Võ Thị Ngọc T và ông Phạm Thanh Đ có hai con chung tên Phạm Ngọc N, sinh ngày 02/7/2004 và Phạm Võ Huy H, sinh ngày 11/8/2016. bà Võ Thị Ngọc T yêu cầu được nuôi cháu Phạm Võ Huy H, không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng, ông Phạm Thanh Đ cũng có yêu cầu được nuôi cháu Phạm Võ Huy H, không yêu cầu bà Võ Thị Ngọc T cấp dưỡng. Căn cứ nguyện vọng của cháu Phạm Võ Huy H muốn sống chung với mẹ sau khi cha mẹ ly hôn cũng như xem xét điều kiện phát triển toàn diện của cháu Phạm Võ Huy H nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của bà Võ Thị Ngọc T được quyền nuôi con chung là cháu Phạm Võ Huy H. Cháu Phạm Ngọc N đã thành niên và đủ khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không xem xét.
2.3 Về cấp dưỡng nuôi con chung: bà Võ Thị Ngọc T không yêu cầu ông Phạm Thanh Đ cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét nghĩa vụ cấp dưỡng của ông Phạm Thanh Đ.
2.4 Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết
[3] Về án phí sơ thẩm: bà Võ Thị Ngọc T là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[4] Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Ngọc T.
- Về hôn nhân: bà Võ Thị Ngọc T được ly hôn ông Phạm Thanh Đ.
- Về con chung: bà Võ Thị Ngọc T được quyền nuôi con chung tên Phạm Võ Huy H, sinh ngày 11/8/2016.
Ông Phạm Thanh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về án phí sơ thẩm: bà Võ Thị Ngọc T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005000 ngày 21/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
- Quyền kháng cáo: bà Võ Thị Ngọc T và ông Phạm Thanh Đ được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 28/02/2025).
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đỗ Hữu Phúc |
Bản án số 28/2025/HNGĐ-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 28/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
