trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Án lệ về tranh chấp tài sản thừa kế
  • search Bản án mẫu tranh chấp đất đai
  • search Luật nhà ở 2023 và hướng dẫn mới
  • search Bảng giá đất 2026 tỉnh thành
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HOA LƯ

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2025/HNGĐ - ST

Ngày: 27 tháng 6 năm 2025

V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Diệu Oanh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tươi

Bà Hoàng Thị Kim Phượng

- Thư ký phiên tòa: Bà Tô Thị Phương Liên là thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư tham gia phiên toà:

Bà Trần Thị Đào - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 18/20254/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 01 năm 2025 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2025/QĐXX-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2025, Quyết định hoãn phiên toà số 18/QĐHPT-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Vũ Thị Thu H, sinh năm 1998;

    Địa chỉ: Số nhà B, đường L, phố A, phường Đ, thành phố H, tỉnh Ninh Bình.

  2. Bị đơn: Anh Vũ Nhật L, sinh năm 1990;

    Địa chỉ: Số nhà A, ngõ E, đường T, phố K, phường N, thành phố H, tỉnh Ninh Bình.

Tại phiên tòa: Có mặt chị H, vắng mặt anh L

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện đề ngày 09 tháng 01 năm 2025, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Vũ Thị Thu H trình bày:

Về hôn nhân: Chị Vũ Thị Thu H và anh Vũ Nhật L được tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND phường N, thành phố N (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình vào ngày 30/8/2022. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống cùng gia đình nhà chồng tại phường N, thành phố H. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, va chạm do bất đồng quan điểm sống; những va chạm cứ tích tụ dần, vợ chồng không mấy khi nói chuyện với nhau. Đến đầu năm 2024, khi chị H mang thai con đầu lòng, do mâu thuẫn trong công việc, anh L luôn trì triết chị H, buổi tối không về nhà ăn cơm, thường xuyên đi đến đêm muộn với về, vợ chồng không trò chuyện với nhau. Đến khi sinh con, chị H cũng muốn hàn gắn, chủ động trò chuyện, nhưng chỉ được 02 tuần, anh L lại bắt đầu trì triết chị, vợ chồng lại cãi nhau. Đến tháng 12/2024 anh L chủ động yêu cầu ly hôn, lúc đó gia đình hai bên khuyên bảo để thêm thời gian hàn gắn nên chị H cũng không có ý kiến gì. Sau đó mọi việc cứ tiếp diễn như vậy, cuộc sống vợ chồng không có gì thay đổi, chị H thấy mệt mỏi và cũng không còn tình cảm với anh L nữa nên đã làm đơn yêu cầu giải quyết ly hôn. Từ tháng 01/2025 chị H đưa con về nhà bố mẹ đẻ ở. Từ khi ly thân, vợ chồng không liên lạc với nhau, gặp nhau cũng không trò chuyện. Gia đình hai bên cũng đã nhiều lần hàn gắn nhưng anh L không thay đổi, đến nay vợ chồng không còn quan tâm đến nhau nữa, mỗi người có cuộc sống riêng. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng tìm hiểu rồi tiến đến hôn nhân trong thời gian rất ngắn nên bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung trong mọi việc nên sống với nhau cũng không có tình cảm, ngay khi bắt đầu chung sống đã phát sinh mâu thuẫn, đỉnh điểm là khi chị H bắt đầu mang thai con chung. Vợ chồng sống với nhau nhưng việc ai người đó làm, kinh tế độc lập, không quan tâm đến nhau. Chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng không thể hòa giải hàn gắn được nên đề nghị được ly hôn với anh L.

Về con chung: Chị H và anh L có 01 con chung là cháu Vũ Nhật K, sinh ngày 03/10/2024, hiện cháu đang ở với chị H. Chị H đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu K và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Chị và anh L tự thoả thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về công nợ: Chị và anh L không có công nợ chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại Bản tự khai gửi đến Toà án ngày 17/02/2025, bị đơn anh Vũ Nhật L khai: Xác nhận quan hệ hôn nhân, thời gian kết hôn, chung sống như chị H khai. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, từ khi chị H có thai, có nhiều cách nhìn nhận, quan điểm khác nhau trong cuộc sống, chăm sóc nhau. Dẫn đến vợ

chồng thường xuyên tranh cãi, gây gổ vì những bất đồng nhỏ nhặt trong cuộc sống. Mặc dù được bố mẹ hai bên khuyên ngăn, hoà giải nhưng vợ chồng vẫn không tìm được tiếng nói chung. Từ tháng 01/2025 đến nay vợ chồng không còn tình cảm. Anh L1 đề nghị Toà án giải quyết cho được ly hôn. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Vũ Nhật K, sinh ngày 03/10/2024, đề nghị Toà án giao cho chị H được nuôi con vì cháu còn nhỏ cần được sự chăm sóc của mẹ. Anh tự nguyện cấp dưỡng cho con hàng tháng.

Tài sản chung và công nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung, công nợ chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt hợp lệ cho anh Vũ Nhật L giấy triệu tập đến Toà án làm việc để lấy lời khai, tham gia tố tụng, thông báo thực hiện quyền nghĩa vụ của đương sự nhưng anh L không chấp hành nội dung triệu tập của Toà án.

Tại Biên bản xác minh ngày 16 tháng 5 năm 2025 giữa Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư và Trưởng phố K, phường N, thành phố H, tỉnh Ninh Bình về tình trạng hôn nhân giữa chị Vũ Thị Thu H và anh Vũ Nhật L, Trưởng phố K cung cấp như sau: Chị Vũ Thị Thu H và anh Vũ Nhật L là vợ chồng hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị H và anh L chung sống tại địa chỉ: Số nhà A, ngõ E, đường T, phố K, phường N, thành phố H, tỉnh Ninh Bình. Chị H có báo cáo với tổ dân phố về việc chị H làm đơn xin ly hôn anh L và vợ chồng hiện nay đã ly thân. Về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H, anh L, đại diện tổ dân phố không nắm được. Chị H có đơn xin ly hôn đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung: Chị H và anh L có 01 con chung sinh năm 2024. Đề nghị Toà án giải quyết việc nuôi con chung giữa chị H, anh L theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật: Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng; thu thập chứng cứ; chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư nghiên cứu đúng thời gian; trình tự thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự theo đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật về việc thực hiện quyền nghĩa vụ. Bị đơn không đến Toà án làm việc, không tham gia phiên toà là chưa thực hiện quyền nghĩa vụ theo quy định.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14

ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị Thu H về việc ly hôn, giải quyết việc nuôi con chung.

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Vũ Thị Thu H và anh Vũ Nhật L.

Về con chung: Giao cho chị Vũ Thị Thu H trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Vũ Nhật K, sinh ngày 03/10/2024 cho đến khi cháu thành niên và có khả năng lao động. Anh Vũ Nhật L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Vũ Thị Thu H phải nộp số tiền 300.000 đồng án phí ly hôn, số tiền phải nộp được đối trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư, Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Thẩm quyền: Chị Vũ Thị Thu H khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn với anh Vũ Nhật L và giải quyết việc nuôi con chung, đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Vũ Nhật L có nơi cư trú tại phố K, phường N, thành phố H nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư theo quy định tại khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên toà bị đơn anh Vũ Nhật L vắng mặt không có lý do, anh L đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nên Toà án xét xử vắng mặt anh L theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Quan hệ hôn nhân:

Chị Vũ Thị Thu H và anh Vũ Nhật L kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, thành phố N (nay là thành phố H), đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian rồi phát sinh mâu thuẫn. Chị H khai nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng tìm hiểu rồi tiến đến hôn nhân trong thời gian rất ngắn nên khi chung sống cùng nhau vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung trong mọi việc, sống cùng nhau nhưng không có tình cảm, việc ai người đó làm, kinh tế độc lập, không quan tâm đến nhau. Vợ chồng chính thức ly

thân từ tháng 01/2025. Quá trình Toà án giải quyết vụ án, anh Vũ Nhật L không hợp tác, không đến Toà án làm việc, không tham gia hoà giải, không có ý kiến đối với các tài liệu chứng cứ do chị H giao nộp và Toa án thu thập. Tại bản tự khai gửi đến Toà án ngày 17/02/2025 anh L xác định vợ chồng không còn tình cảm và đề nghị Toà án giải quyết cho được ly hôn.

Như vậy, mâu thuẫn giữa chị H và anh L đã kéo dài và ngày càng trầm trọng, sau khi phát sinh mâu thuẫn, chị H đã có ý thức xây dựng, vun vén để vợ chồng hàn gắn nhưng không hàn gắn được mâu thuẫn, vợ chồng ly thân từ năm tháng 01/2025. Từ khi ly thân, vợ chồng không chung sống cùng nhau, không yêu thương, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, không thực hiện quyền nghĩa vụ chung của vợ chồng, mục đích của hôn nhân không đạt được, không còn khả năng hàn gắn lại tình cảm. Chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn và đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn với anh L là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về con chung:

Chị Vũ Thị Thu H và anh Vũ Nhật L có 01 con chung là cháu Vũ Nhật K, sinh ngày 03/10/2024. Chị H đề nghị được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con chung và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung.

Xét thấy: Từ khi chị H và anh L sống ly thân, cháu K đều do chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; cháu K còn nhỏ rất cần được sự quan tâm chăm sóc của mẹ, để đảm bảo môi trường sống ổn định cho cháu cần giao cho chị H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu K cho đến khi cháu thành niên và có khả năng lao động.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, Toà án cũng đã giải thích cho chị H biết việc cấp dưỡng là nghĩa vụ và trách nhiệm của cha mẹ với con nhưng chị H giữ nguyên quan điểm không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung. Hội đồng xét xử thấy rằng, chị H hiện có công việc, có thu nhập ổn định, có khả năng nuôi dưỡng cháu K, việc chị H không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung là hoàn toàn tự nguyện vì vậy cần được chấp nhận.

[2.3] Về tài sản chung và công nợ:

Chị Vũ Thị Thu H không đề nghị giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí:

Chị Vũ Thị Thu H phải nộp án phí ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

[4] Về quyền kháng cáo:

Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, khoản 1 Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị Thu H, cho ly hôn giữa chị Vũ Thị Thu H và anh Vũ Nhật L. Quan hệ hôn nhân của chị Vũ Thị Thu H và anh Vũ Nhật L chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Giao cho chị Vũ Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Vũ Nhật K sinh ngày 03/10/2024 cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động. Anh Vũ Nhật L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

3. Về án phí sơ thẩm: Chị Vũ Thị Thu H phải nộp số tiền 300.000 đồng án phí ly hôn, số tiền án phí phải nộp được đối trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002464 ngày 09/01/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.

Đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND thành phố Hoa Lư;
  • - Chi cục THADS thành phố Hoa Lư;
  • - UBND phường Ninh Khánh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Phạm Diệu Oanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2025/HNGĐ - ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 28/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị H yêu cầu ly hôn anh L và giải quyết việc nuôi con chung do mâu thuẫn gia đình
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger