|
TAND HUYỆN PHONG THỔ TỈNH LAI CHÂU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 28/2025/HNGĐ-ST Ngày 26-6-2025 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỎ, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Tuyết Thanh
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lò Văn Chiên
- 2. Ông Đèo Văn Vĩnh
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyên - Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 86/2025/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 3 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lý Thị M, sinh năm 1994; Nơi cư trú: Bản G, xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt có lý do.
- Bị đơn: Anh Lý Chỉn L, sinh năm 1995; Nơi cư trú: Bản G, xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” cùng các lời khai có trong hồ sơ nguyên đơn chị Lý Thị M trình bày:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lý Chỉn L về chung sống với nhau như vợ chồng tử năm 2013, đăng ký kết hôn ngày 13/01/2016 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu trên cơ sở tự nguyện. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân, do chị và anh L bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, anh L không quan tâm đến gia đình, nghiện cờ bạc, không đóng góp kinh tế gia đình và thường xuyên đánh chửi, đuổi chị ra khỏi nhà. Chị đã về nhà bố mẹ đẻ ở và sống ly thân với anh L từ tháng 7 năm 2024 cho đến nay. Chị xét thấy không còn tình cảm, không thể tiếp tục chung sống với anh L nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh L.
2. Về con chung: Chị và anh L có 02 con chung là Lý Thị Kiều T, sinh ngày 26/02/2013 và Lý Thị Kiều Y, sinh ngày 28/11/2017. Hiện nay, các con chung đều đang ở với anh L và bố mẹ anh L. Sau khi ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung Lý Thị Kiều Y và không yêu cầu anh L phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung. Chị đề nghị Tòa án giao cháu Lý Thị Kiều T cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng.
3. Về chia tài sản: Tài sản chung, nợ chung, cho vay chung chị M không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Sau khi thụ lý vụ án, anh Lý Chỉn L mặc dù biết chị M có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn và đã được Tòa án triệu tập, thông báo hợp lệ đến Tòa để làm việc nhưng cố tình vắng mặt mà không có lý do.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền thụ lý vụ án, thụ lý đơn yêu cầu ly hôn, việc xác định quan hệ tranh chấp và tư cách của đương sự trong vụ án, việc ra và gửi thông báo thụ lý cũng như Quyết định đưa vụ án ra xét xử cùng hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát đúng thời hạn quy định. Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và Thư ký: Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn cố tình vắng mặt tại phiên tòa không có lý do là vi phạm về quyền, nghĩa vụ của bị đơn theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lý Thị M và xem xét quyết định: Chị M được ly hôn với anh L; giao con chung Lý Thị Kiều Y cho chị M nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi; giao con chung Lý Thị Kiều T cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng. Anh L, chị M đều có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con chung và chia tài sản chung, nợ chung do không yêu cầu nên không xem xét; nguyên đơn được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng: Anh Lý Chỉn L có nơi cư trú tại bản Bản G, xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. Anh L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng cố tình vắng mặt không có lý do. Chị M có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải nên căn cứ khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án không tiến hành hòa giải và quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung. Ngày 10/6/2025, Tòa án đã tiến hành mở phiên tòa lần thứ nhất, mặc dù được triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn tiếp tục vắng mặt không có lý do nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lý Thị M và anh Lý Chỉn L đăng ký kết hôn ngày 13/01/2016 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu. Việc kết hôn giữa chị M và anh L hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc. Do vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị M và anh L là hợp pháp. Quá trình chung sống chị M và anh L đã không còn hạnh phúc, chị M đã về nhà bố mẹ đẻ ở và sống ly thân với anh L. Mặc dù bản, xã chưa hòa giải cho anh chị lần nào về mâu thuẫn gia đình nhưng thực tế anh chị đã không còn yêu thương, quan tâm đến nhau nữa, thời gian sống ly thân cũng đã lâu. Hội đồng xét xử nhận thấy hôn nhân giữa chị M và anh L đã thực sự lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu cho chị M được ly hôn với anh L là hoàn toàn có căn cứ theo quy định tại Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về con chung: có 02 con chung là Lý Thị Kiều T, sinh ngày 26/02/2013 và Lý Thị Kiều Y, sinh ngày 28/11/2017. Chị M có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con Lý Thị Kiều Y vì lý do cháu là con gái, còn nhỏ, cần được chị chăm sóc trực tiếp và nguyện vọng của cháu Y cũng mong muốn được ở với mẹ nên cần giao cháu Y cho chị M nuôi dưỡng là phù hợp. Chị M đề nghị giao cháu Lý Thị Kiều T cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy cháu T đã 12 tuổi, đang ở cùng ông bà nội và được chăm sóc tốt, cháu có nguyện vọng được ở với bố nên giao cháu T cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Chị M không yêu cầu anh L phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về chia tài sản chung, nợ chung, cho vay chung: Chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Chị Lý Thị M là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí nên theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn.
Quan điểm giải quyết vụ án của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lý Thị M được ly hôn với anh Lý Chỉn L.
- Về con chung: Giao con chung Lý Thị Kiều Y, sinh ngày 28/11/2017 cho chị Lý Thị M trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi con chung trưởng thành, đủ 18 tuổi.
Giao con chung Lý Thị Kiều T, sinh ngày 26/02/2013 cho anh Lý Chỉn L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi con chung trưởng thành, đủ 18 tuổi.
Chị Lý Thị M và anh Lý Chỉn L có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Lý Thị M không yêu cầu anh Lý Chỉn L cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về chia tài sản chung, nợ chung, cho vay chung: Chị Lý Thị M không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn Lý Thị M.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Tuyết Thanh |
Bản án số 28/2025/HNGĐ-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 28/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Mai xin ly hôn anh Lẻng
