Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỘC NINH

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 28/2025/HNGĐ – ST

Ngày: 23-5-2025

V/v tranh chấp Ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CÔNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Quốc Tú

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Thành Vui
  2. Bà Nguyễn Kim Phụng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lành – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Như Mai Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 387/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp Ly hôn, nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 11/2024/QĐHPT ngày 24/3/2025; thông báo về việc mở lại phiên toà số 67 ngày 24/4/2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Thị Sa R, sinh năm 1980
  2. Địa chỉ: Tổ A, ấp D, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước.

    Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt.

  3. Bị đơn: Ông Lâm N, sinh năm 1981
  4. Nơi cư trú: Tổ A, ấp D, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước

    Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Thị Sa R trình bày:

  • + Về quan hệ hôn nhân: Bà Thị Sa R và ông Lâm N tự nguyện sống chung với nhau từ năm 1998 nhưng đến năm 2006 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước.

    Trước khi sống chung có tìm hiểu nhau trong khoảng thời gian 01 năm.

    Sau khi sống chung vợ chồng sống tự lập tại ấp D, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước.

    Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, cuộc sống không hạnh phúc.

    Nay nhận thấy vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa nên bà Thị Sa R xin được ly hôn với ông Lâm N.

  • + Về con chung: Bà Thị Sa R và ông Lâm N có bốn người con chung tên là Lâm P, sinh ngày 25/5/1999; Lâm Lương T, sinh ngày 30/12/2005; Lâm Thị Sô P1, sinh ngày 12/01/2015; Lâm Phia R1, sinh ngày 12/01/2015. Khi ly hôn bà Thị Sa R yêu cầu được nuôi hai người con chung tên Lâm Thị Sô P1 và Lâm Phia R1, đối với hai con Lâm P và Lâm Lương T đã trưởng thành nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

  • + Về cấp dưỡng nuôi con: Khi ly hôn bà Thị Sa R không yêu cầu ông Lâm N phải cấp dưỡng nuôi con chung.

    Bà Thị Sa R và ông Lâm N không nhận ai làm con nuôi và hiện nay bà Thị Sa R không mang thai.

  • + Về tài sản chung: Không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

  • + Về nợ chung: Không nợ ai, không ai nợ lại nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn ông Lâm N vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án mà không có lý do.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh phát biểu ý kiến:

  • - Việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết, thực hiện thủ tục cấp tống đạt các văn bản tố tụng, thu thập chứng cứ, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát, thành phần tham gia xét xử được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh không có kiến nghị gì về tố tụng.

  • - Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Thị Sa R.

    • + Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Thị Sa R được ly hôn với ông Lâm N
    • + Về con chung: Bà Thị Sa R được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung tên là Lâm Thị Sô P1, sinh ngày 12/01/2015 và Lâm Phi R2, sinh ngày 12/01/2015.
    • + Về yêu cầu cấp dưỡng: Bà Thị Sa R không yêu cầu ông Lâm N cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.
    • + Về tài sản chung: Bà Thị Sa R khẳng định không có tài sản chung nên không xem xét.
    • + Về nợ chung: Bà Thị Sa R khẳng định không có nợ chung nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Về tố tụng:

Nguyên đơn bà Thị Sa R có đơn khởi kiện ly hôn với ông Lâm N tại Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh để giải quyết theo thẩm quyền. Xét thấy ông Lâm N có nơi cư trú tại huyện L, tỉnh Bình Phước nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, biết được Tòa án đang thụ lý và giải quyết ly hôn theo đơn khởi kiện của bà Thị Sa R nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án và tại phiên tòa. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[2] Về nội dung vụ án:

Bà Thị Sa R và ông Lâm N tự nguyện sống chung với nhau và có đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước. Như vậy, hôn nhân giữa bà Thị Sa R và ông Lâm N là hợp pháp.

Theo đơn khởi kiện thì bà Thị Sa R cho rằng vợ chồng sống không hạnh phúc, phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, ông Lâm N không chăm lo cuộc sống, kinh tế cho gia đình, thường xuyên nhậu nhẹt nên cuộc sống chung không còn hạnh phúc. Nay nhận thấy vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Thị Sa R xin được ly hôn với ông Lâm N.

Trong quá trình giải quyết, ông Lâm N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, biết được Tòa án đang thụ lý và giải quyết ly hôn theo đơn khởi kiện của bà Thị Sa R nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án mà không có lý do và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình cho Tòa án.

Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa bà Thị Sa R và ông Lâm N đã trầm trọng, cuộc sống không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được; Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử quyết định cho bà Thị Sa R được ly hôn với ông Lâm N.

  • + Về con chung: Bà Thị Sa R và ông Lâm N có bốn người con chung tên là Lâm P, sinh ngày 25/5/1999; Lâm Lương T, sinh ngày 30/12/2005; Lâm Thị Sô P1, sinh ngày 12/01/2015; Lâm Phi R2, sinh ngày 12/01/2015. Khi ly hôn bà Thị Sa R yêu cầu được nuôi hai người con chung tên Lâm Thị Sô P1 và Lâm Phi R2, đối với hai con Lâm P và Lâm Lương T đã trưởng thành nên không yêu cầu Toà án giải quyết. Hội đồng xét xử xét thấy nguyên đơn yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai người con chung tên Lâm Thị Sô P1 và Lâm Phi R2. Đồng thời nguyện vọng của 02 cháu Lâm Thị Sô P1 và Lâm Phi R2 được ở với mẹ nên cần giao 02 cháu Lâm Thị Sô P1 và Lâm Phi R2 cho bà Thị Sa R trực tiếp nuôi dưỡng là có cơ sở nên yêu cầu của bà R3 được chấp nhận.

    Bà Thị Sa R và ông Lâm N không nhận ai làm con nuôi và hiện nay bà Thị Sa R không mang thai.

  • + Về cấp dưỡng nuôi con: Khi ly hôn bà Thị Sa R không yêu cầu ông Lâm N phải cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

  • + Về tài sản chung: Không có tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

  • + Về nợ chung: Không nợ ai, không ai nợ lại nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Như vậy, bà Thị Sa R phải chịu số tiền án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng).

[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát huyện Lộc Ninh là phù hợp nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Điều 39 Bộ luật dân sự;
  • - Điều 19, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, 84, 85, 86 và 87 Luật hôn nhân gia đình;
  • - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thị Sa R.
    • - Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Thị Sa R được ly hôn với ông Lâm N

    • - Về con chung: Bà Thị Sa R được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục hai người con chung tên là Lâm Thị Sô P1, sinh ngày 12/01/2015 và Lâm Phi R2, sinh ngày 12/01/2015. Đối với hai người con chung Lâm P và Lâm Lương T đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

    Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

    Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

    Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

    • - Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Thị Sa R không yêu cầu ông Lâm N phải cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

    • - Về tài sản chung: Bà Thị Sa R khẳng định không có tài sản chung và không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

    • - Về nợ chung: Bà Thị Sa R khẳng định không có nợ ai, không ai nợ lại và không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

  2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Thị Sa R phải chịu số tiền án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí bà Thị Sa R đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước theo biên lai thu tiền số: 0006630 ngày 10/10/2024.
  3. Quyền kháng cáo bản án: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - VKS huyện Lộc Ninh;
  • - THADS huyện Lộc Ninh;
  • - UBND xã Lộc Hưng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Quốc Tú

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2025/HNGĐ – ST ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 28/2025/HNGĐ – ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BẢN ÁN " vụ việc tranh chấp ly hôn, nuôi con" Thị Sa R và Lâm N
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger