TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 28/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 21/3/2025
V/v “ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Công Trung
- Bà Võ Thị Hiền
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Yến Linh – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Chúc – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Tri xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 395/2024/TLST - HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2024 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2025/QÐST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 10/2025/QÐST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phan Thị Út V, sinh năm 1993 (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: 6, ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1988 (vắng mặt).
Địa chỉ: 6, ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 03/10/2024, trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Phan Thị Út V trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn T đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre vào năm 2015. Sau khi cưới hai vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng đến tháng 7 năm 2024 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân vợ chồng thường xuyên gây gổ, cự cãi nhau làm cho tình cảm vợ chồng rạn nứt trầm trọng. Chị và anh T đã sống ly thân từ tháng 7 năm 2024, trong thời gian sống ly thân hai vợ chồng không hàn gắn được với nhau. Chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
Về con chung: Chị và anh T có 02 con chung tên Nguyễn Gia B, sinh ngày 15/4/2014 và Nguyễn Gia K, sinh ngay 28/6/2019. Con chung hiện đang sống với anh T, khi ly hôn chị đồng ý để anh T được quyền trực tiếp nuôi con chung và chị cấp dưỡng theo quy định pháp luật.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
Bị đơn anh Nguyễn Văn T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng tuy nhiên anh T vắng mặt không lý do và không có văn bản trình bày ý kiến.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:
- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, Thẩm phán đã tuân thủ và tiến hành đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự. Thành viên Hội đồng xét xử thể hiện sự vô tư, khách quan, độc lập khi xét xử. Nguyên đơn đã chấp hành nghiêm túc quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71; bị đơn chưa chấp hành nghiêm túc quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án đưa ra xét xử đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Áp dụng các Điều 9, 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử: Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phan Thị Út V đối với anh Nguyễn Văn T. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Gia B, sinh ngày 15/4/2014 và Nguyễn Gia K, sinh ngay 28/6/2019 cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng và chị V có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, qua kết quả tranh tụng, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Phan Thị Út V có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Văn T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để xét xử nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị V, anh T.
[2] Về hôn nhân: Chị Phan Thị Út V và anh Nguyễn Văn T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre vào ngày 19/5/2015 trên cơ sở tự nguyện nên là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến tháng 7 năm 2024, thì xảy ra mâu thuẫn với nhau, hôn nhân không còn hạnh phúc. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn, hôn nhân không hạnh phúc theo lời trình bày của chị V là do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên gây gổ, tình cảm vợ chồng rạn nứt trầm trọng, không thể hàn gắn được với nhau. Tòa án nhân dân huyện Ba Tri đã tiến hành hòa giải giữa chị V và anh T nhưng anh T không tham gia hòa giải, thể hiện anh không muốn cứu vãn cuộc hôn nhân giữa anh và chị V. Chị V thì vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn đối với anh T. Qua đó, đủ cơ sở xác định hôn nhân giữa chị V và anh T đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, chị V yêu cầu ly hôn với anh T là có căn cứ phù hợp với quy định tại các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân chị V và anh T có 02 con chung tên Nguyễn Gia B, sinh ngày 15/4/2014 và Nguyễn Gia K, sinh ngay 28/6/2019. Từ khi chị V, anh T sống ly thân, cháu B, cháu K do anh T nuôi dưỡng chăm sóc tốt, chị V đồng ý để anh T được quyền trực tiếp nuôi con chung sau ly hôn. Do đó, để ổn định tâm lý và sự phát triển bình thường của con chung, giao con chung cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Mặc dù anh T là người trực tiếp nuôi hai con chung, anh không yêu cầu chị V cấp dưỡng nuôi con, tuy nhiên chị V tự nguyện cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật đây là sự tự nguyện của chị V được Hội đồng xét xử ghi nhận. Về mức cấp dưỡng, khoản 2 Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình quy định “Mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định nhưng không thấp hơn một nữa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi con” và Điều 3 Nghị định 74/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động và mục 3 Phụ lục kèm theo quy định lương tối thiểu vùng tại địa bàn huyện B là 3.860.000đ, một nửa tháng lương tối thiểu vùng là 1.930.000đ (Một triệu chín trăm ba mươi nghìn đồng). Do đó, chị V có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu B, cháu K với mức cấp dưỡng là 1.930.000 (Một triệu chín trăm ba mươi nghìn) đồng/tháng/cháu. Thời gian cấp dưỡng được tính từ ngày 21/3/2025 đến khi cháu B, cháu K tròn 18 tuổi.
[4] Về tài sản chung: Không có, không xem xét giải quyết.
[5] Về nợ chung: Không có, không xem xét giải quyết.
[6] Xét quan điểm đề nghị về nội dung giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri là cùng quan điểm nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[7] Về án phí: Chị Phan Thị Út V phải nộp án phí hôn nhân và gia đình là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) và án phí cấp dưỡng 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo quy định tại Điều 12, 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 39, 147, 227, 228, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 9, 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình
Căn cứ Nghị định 74/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chị Phan Thị Út V được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
- Về con chung: Giao con Nguyễn Gia B, sinh ngày 15/4/2014 và Nguyễn Gia K, sinh ngày 28/6/2019 cho anh Nguyễn Văn T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Chị Phan Thị Út V có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu B, cháu K với mức cấp dưỡng là 1.930.000 (Một triệu chín trăm ba mươi nghìn) đồng/tháng/cháu. Thời gian cấp dưỡng được tính từ ngày 21/3/2025 đến khi cháu B, cháu K tròn 18 tuổi.
Chị Phan Thị Út V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Trường hợp chị V lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì anh T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con. Vì lợi ích của con, một hoặc hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có.
- Về nợ chung: Không có
- Về án phí: Chị Phan Thị Út V phải nộp án phí hôn nhân và gia đình là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) và án phí cấp dưỡng 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0002543 ngày 02 thán 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Sau khi khấu trừ chị V phải nộp tiếp số tiền án phí là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Duy Linh |
Bản án số 28/2025/HNGĐ-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 28/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị V đối với anh T
