|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 28/2025/HNGĐ-ST Ngày 25-3-2025 V/v Tranh chấp về hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đông Giang
Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Vũ Thị Nga
- Bà Hoàng Thị Thu Hiền
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Hạnh - Cán bộ Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thảo – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 12/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 02 năm 2025 về “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2025/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1988
Địa chỉ: thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình.
- Bị đơn: Chị Trịnh Thị Khánh H, sinh năm 1995
HKTT: thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình.
Địa chỉ hiện nay: Maison L, 4-chome-45-1 N, F, C, Nhật Bản.
(Anh B, chị H có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại Đơn khởi kiện và B1 tự khai, nguyên đơn - anh Nguyễn Văn B trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: A và chị Trịnh Thị Khánh H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình ngày 22/02/2016. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chung sống hòa thuận được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng luôn bất đồng về quan điểm sống, không có tiếng nói chung, tính cách không hợp nhau. Mặc dù đã nhiều lần ngồi lại để hàn gắn tiếp tục cuộc sống hôn nhân nhưng hai bên vẫn bất đồng, không hoà thuận. Cuối năm 2020 chị H đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Trịnh Thị Khánh H.
- Về quan hệ con chung: Anh và chị Trịnh Thị Khánh H có 01 con chung là cháu Nguyễn Hạ V, sinh ngày 02/6/2016, hiện nay con chung đang ở với anh. Ly hôn anh đề nghị Tòa án giao con chung cho anh được trực tiếp nuôi dưỡng, anh không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về quan hệ tài sản: Anh và chị H không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do tính chất công việc nên không thể đến Tòa án tham gia tố tụng được, anh có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt anh.
* Tại Bản tự khai; Đơn đề nghị về việc giải quyết, xét xử vắng mặt; Bị đơn - chị Trịnh Thị Khánh H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Về thời gian, điều kiện kết hôn cũng như thời gian, nguyên nhân mâu thuẫn chị H khai phù hợp với lời khai như của anh B đã trình bày. Nay anh B xin ly hôn chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị nhất trí ly hôn anh B.
- Về quan hệ con chung: Chị xác nhận lời khai về con chung của anh B là đúng. Ly hôn chị đồng ý giao con chung cho anh B trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng theo nguyện vọng của anh B.
- Về quan hệ tài sản: Chị và anh B không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do chị đang sinh sống và làm việc tại Nhật Bản nên chị không thể về Việt Nam tham gia tố tụng tại Toà án, chị có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt. Việc giao nộp tài liệu, chứng cứ và nhận các văn bản của Tòa án, chị ủy quyền cho mẹ đẻ chị là bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1970; địa chỉ: Xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
* Cháu Nguyễn Hạ V trình bày: Cháu là con của bố Nguyễn Văn B và mẹ Trịnh Thị Khánh H, hiện nay cháu đang ở với bố tại thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Bố cháu luôn quan tâm và chăm sóc cháu nên cháu có nguyện vọng được ở với bố để ổn định cho việc học tập.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình kết luận quá trình thực hiện tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, đương sự đảm bảo đúng pháp luật và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình: Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Văn B được ly hôn chị Trịnh Thị Khánh H. Về quan hệ con chung: Giao con chung Nguyễn Hạ V, sinh ngày 02/6/2016 cho anh Nguyễn Văn B trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, không đặt ra giải quyết về cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra giải quyết. Về án phí: Anh Nguyễn Văn B phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, các quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
* Về tố tụng: Bị đơn chị Trịnh Thị Khánh H ở nước ngoài (Nhật Bản), căn cứ vào khoản 3 Điều 35, Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình. Anh B, chị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt hợp lệ, áp dụng khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị anh B, chị H.
* Về nội dung:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn B và chị Trịnh Thị Khánh H kết hôn hợp pháp, có đăng ký kết hôn ngày 22/02/2016 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn, anh B, chị H chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp nhau, không còn yêu thương, chăm sóc nhau và sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Cả anh B và chị H đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh B xin ly hôn, chị H đồng ý. Xét thấy cuộc sống hôn nhân giữa anh B và chị H không có hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng đã kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần xử cho anh Nguyễn Văn B được ly hôn chị Trịnh Thị Khánh H là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[2] Về con chung: Anh B đề nghị giao con chung cháu Nguyễn Hạ V, sinh ngày 02/6/2016 cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Xét thấy hiện nay anh B đang là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu V, cháu V có nguyện vọng được ở với anh B, việc cháu V ở với anh B đảm bảo các điều kiện sinh hoạt, học tập và phát triển bình thường; bản thân chị H cũng nhất trí tin tưởng giao cháu V cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng, anh B và chị H đều không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con. Vì vậy cần chấp nhận sự thoả thuận của các đương sự, giao cho anh B có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng cháu V, về cấp dưỡng nuôi con không đặt ra giải quyết là phù hợp quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về tài sản chung và nợ chung: Anh Nguyễn Văn B và chị Trịnh Thị Khánh H không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy không đặt ra giải quyết.
[4] Về án phí: Anh Nguyễn Văn B phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
-
Về quan hệ hôn nhân:
Xử cho anh Nguyễn Văn B được ly hôn chị Trịnh Thị Khánh H.
-
Về con chung:
Giao cho anh Nguyễn Văn B trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Hạ V, sinh ngày 02/6/2016. Về cấp dưỡng nuôi con: Không đặt ra giải quyết. Anh B, chị H có quyền và nghĩa vụ chăm sóc con chung theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
-
Về tài sản chung và nợ chung:
Không đặt ra giải quyết.
-
Về án phí:
Anh Nguyễn Văn B phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, chuyển số tiền 300.000 đồng anh B đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai số 0000420 ngày 20 tháng 01 năm 2025 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình sang thi hành án phí.
Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt anh Nguyễn Văn B, chị Trịnh Thị Khánh H. Anh B có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, chị H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Vũ Đông Giang |
Bản án số 28/2025/HNGĐ-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp về hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 28/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
