Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HƯNG HÀ

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2025/HNGĐ-ST

Ngày 20-6-2025

V/v: Ly hôn giữa chị Lừng và anh Cư.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Lương Văn Tuấn.
  • - Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Ngọc Hoàng và bà Cao Thị Lan.
  • - Thư ký ghi biên bản phiên tòa: bà Phạm Thị Mai - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Ngọc Lân - Kiểm sát viên.

Ngày 20-6-2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 49/2025/TLST - HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2025 về việc “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12-5-2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2025/QĐST-HNGĐ ngày 03-6-2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: chị Hoàng Thị L, sinh năm 1987.
  2. Nơi thường trú: thôn N, xã V, huyện H, tỉnh Thái Bình.

    Nơi tạm trú: số nhà D, đường C, khu phố G, phường Đ, thành phố H, tỉnh Ninh Bình.

  3. Bị đơn: anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1978.
  4. Nơi cư trú: thôn N, xã V, huyện H, tỉnh Thái Bình.

    (chị L có đơn xin xét xử vắng mặt; anh C vắng mặt cố tình dấu địa chỉ).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn chị Hoàng Thị L trình bày:

Về hôn nhân: chị và và anh C kết hôn với nhau do hai bên tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại trụ sở UBND xã V, huyện H, tỉnh Thái Bình vào ngày 16-02-2005. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến tháng 10 năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do vợ chồng tính tình không hợp nhau, không bảo ban được nhau trong cuộc sống, vợ chồng đã sống ly thân từ cuối năm 2010 đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng đã sống ly thân đến nay là 15 năm nên không còn khả năng đoàn tụ, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn C. Về nuôi con chung: chị và anh C có

01 con chung là Nguyễn Hồng P, sinh ngày 24-12-2008, hiện nay đang ở với anh C, khi ly hôn chị nhường anh C tiếp tục nuôi con chung, chị có trách nhiệm cùng với anh C trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Về chia tài sản chung: chị và anh C không có tài sản gì chung, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản xác minh ngày 23-4-2025 và ngày 13-5-2025 ông Nguyễn Xuân T trình bày: ông là bố đẻ anh Nguyễn Văn C, hiện anh C đi lằm ăn ở tỉnh ngoài không rõ địa chỉ cụ thể, anh C vẫn thỉnh thoảng gọi điện thoại về cho ông, ông có nhận được thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập của Tòa án cho anh C, ông cũng đã thông báo, gửi cho anh C được biết, anh C có trao đổi lại với ông nội dung: Về hôn nhân: vợ chồng anh chị ly thân nhau từ lâu, đã chia các đồ dùng sinh hoạt như nồi liêu, bát đĩa, anh nhất trí ly hôn với chị L và đề nghị Tòa án cứ giải quyết vắng mặt anh. Về nuôi con chung: vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Hồng P, sinh ngày 24-12-2008, hiện nay anh đang nuôi dưỡng đầy đủ chu đáo hai năm nay nên anh xin được tiếp tục nuôi con chung, cháu P cũng đã gần trưởng thành nên anh không yêu cầu chị L phải góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh. Về chia tài sản chung: anh và chị L không có tài sản gì chung nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Cơ sở thôn N, xã V xác nhận lời trình bày của ông Nguyễn Xuân T là đúng. Do chị L và anh C đi lao động ở tỉnh ngoài nên cơ sở thôn không rõ vợ chồng anh C mâu thuẫn như thế nào, cách đây hai năm chị L có đưa con về cho ông T sau đó anh C đưa cháu đi và không thấy chị L về nữa.

Tại phiên tòa, trước khi Hội đồng xét xử nghị án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX) đã tiến hành thụ lý, thu thập chứng cứ và xét xử vụ án theo đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục tố tụng mà pháp luật quy định, nguyên đơn chị L đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, bị đơn anh C cố tình dấu địa chỉ không chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự về việc cung cấp các tài liệu, chứng cứ cho Thẩm phán giải quyết, không tuân thủ việc triệu tập đến Tòa án làm việc trong quá trình giải quyết vụ án theo quy định. Về giải quyết vụ án, đề nghị HĐXX, xử cho chị L và anh C được ly hôn; về nuôi con chung: giao cháu Nguyễn Hồng P, sinh ngày 24-12-2008 cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng, chị L không phải góp cấp dưỡng nuôi con cùng anh C; về chia tài sản chung: không xem xét giải quyết. Về án phí: chị Hoàng Thị L phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết: chị L khởi kiện yêu cầu được ly hôn anh C, anh C thường trú tại thôn N, xã V, huyện H, tỉnh Thái Bình; Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

Quá trình giải quyết vụ án chị L không cung cấp được địa chỉ của anh C ở tỉnh ngoài, gia đình ông C không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh C. Ông T là bố đẻ anh C xác định anh C vẫn liên lạc với gia đình, ông đã thông báo cho anh C về việc chị L xin ly hôn, anh C không cung cấp địa chỉ và không gửi ý kiến trình bày bằng văn bản cho Tòa án. Do đó Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà tiến hành giải quyết và xét xử vụ án theo thủ tục cố tình dấu địa chỉ.

[1.2] Về việc xét xử vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa chị L có đơn xin xét xử vắng mặt, anh C vắng mặt lần thứ 2 không có lý do, căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 328 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án vắng mặt chị L và anh C.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về hôn nhân: chị L và anh C kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại trụ sở UBND xã V, huyện H, tỉnh Thái Bình vào ngày 16-02-2005 là hôn nhân hợp pháp. Chị L xác định vợ chồng mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được và đã sống ly thân từ năm 2010 đến nay, chị xin được ly hôn với anh C. Thông qua gia đình anh C cũng xác định vợ chồng đã mâu thuẫn căng thẳng và sống ly thân từ lâu, anh nhất trí ly hôn với chị L. Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng chị L và anh C đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, vì vậy cần xử cho ly hôn giữa chị L và anh C là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về nuôi con chung: chị L và anh C có 01 con chung là Nguyễn Hồng P, sinh ngày 24-12-2008, thông qua gia đình anh C thì hiện cháu P đang ở với anh C, thông qua gia đình, anh C có nguyện vọng được nuôi con chung và không yêu cầu chị L phải góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh C và chị L cũng nhất trí để anh C trực tiếp nuôi con chung nên cần giao con chung cho anh C trực tiếp nuôi con chung, chị L không phải góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh C là phù hợp quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

[2.3] Về chia tài sản chung: chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết nhưng anh C vắng mặt cố tình dấu địa chỉ và không có ý kiến trực tiếp của anh C nên HĐXX không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí: chị L phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: chị L và anh C có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 328, khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình. Các Điều 26 và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Hoàng Thị L và anh Nguyễn Văn C.
  2. Về nuôi con chung: Giao cho cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Hồng P, sinh ngày 24-12-2008. Chị L không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh C, chị L có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Chị Hoàng Thị L và anh Nguyễn Văn C có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con khi cần thiết.
  3. Về chia tài sản chung: không đặt ra giải quyết.
  4. Về án phí: chị Hoàng Thị L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị L đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0000634 ngày 13-3-2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình (chị L đã nộp đủ tiền án phí).
  5. Về quyền kháng cáo: chị Hoàng Thị L và anh Nguyễn Văn C có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự
  • - VKSND huyện Hưng Hà;
  • - Chi cục THA huyện Hưng Hà;
  • - UBND xã Văn Cẩm, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Lương Văn Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2025/HNGĐ-ST ngày 20/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 28/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn giữa chị L và anh C
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger