|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 28/2025/HNGĐ - ST Ngày: 20 - 3 - 2025 V/v: Ly hôn giữa chị Kết và anh Dương |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lự.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Thái, ông Nguyễn Văn Chấn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên toà: Ông Lê Trung Kiên - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 334/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn, con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2025/QĐXX - ST ngày 20 tháng 02 năm 2025, quyết định hoãn phiên tòa số 19/2025/QĐST - HNGĐ ngày 10/3/2025 giữa:
Nguyên đơn: Chị Lý Thị K, sinh năm 1996 (có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn L, xã N, huyện V, tỉnh Yên Bái.
Bị đơn: Anh Đồng Xuân D, sinh năm 1993 (vắng mặt)
Địa chỉ: N, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Bà Trần Thu D1, sinh năm 1970 (vắng mặt)
Địa chỉ: N, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ghi ngày 24/10/2024 và trong các lời khai chị Lý Thị K là nguyên đơn trình bày: Chị kết hôn với anh Đồng Xuân D năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T. Anh chị kết hôn là tự nguyện không bị ai ép buộc, cưới xong anh chị về chung sống với nhau ngay tại thôn N, xã T. Thời gian đầu sống hạnh phúc, sau thời gian thì đã có nhiều mâu thuẫn xảy ra, do không tìm được tiếng nói chung. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống thường xuyên cãi vã nên vợ chồng không còn tình cảm không thể chung sống được với nhau, anh chị đã sống ly thân từ 2018 cho đến nay không còn quan hệ về tình cảm và kinh tế. Hai bên gia đình đã hoà giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn chị đề nghị được ly hôn với anh D.
Về con chung: Anh chị có 01 con là Đồng Thị Ngọc L, sinh ngày 26/6/2016. Chị đề nghị để anh D nuôi con, cấp dưỡng nuôi con chị không đề nghị Toà án giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung và công nợ cũng không có anh không đề nghị Toà án giải quyết.
Tại phiên tòa do công việc bận nên chị K có đơn xin xét xử vắng mặt.
Về phía bị đơn anh Đồng Xuân D đã được Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều nhần nhưng anh D không đến Tòa án để trình bày quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của chị K. Bà Trần Thu D1 (mẹ đẻ của anh D) ở cùng địa chỉ xác nhận anh D đi làm công ty nhưng cuối tuần vẫn về nhà nhưng địa chỉ cụ thể làm ở đâu bà có hỏi anh D nhưng anh D không nói rõ. Sau khi nhận thay các văn bản tố tụng của Tòa án gửi cho anh D như Thông báo thụ lý, giấy triệu tập, thông báo phiên họp kiểm tra việc tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, bà đã giao lại cho anh D như cam kết với Tòa án anh D đã nhận được và không có ý kiến gì.
Tại biên bản xác minh 09/01/2025 Toà án làm việc với Công an xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Anh D là công dân của thôn N, xã T hiện nay anh D đi đâu làm gì địa phương không nắm được nhưng anh D vẫn thường xuyên về nhà.
Tại phiên tòa anh Đồng Xuân D vắng mặt.
Bà Trần Thị D2 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà D2 trình bày, bà là mẹ đẻ anh D bà có biết việc chị K có đơn xin ly hôn với anh D, viếc này bà nhất trí và không có ý kiến gì. Anh D hiện nay đi làm công ty bà không biết địa chỉ cụ thể, bà sẽ nhận các văn bản tố tụng của Tòa án thay anh D và cam kết giao lại cho anh D tận tay. Đối với con anh D và chị K là cháu Đồng Thị Ngọc L từ nhỏ vẫn ở cùng anh D và gia đình bà nên bà đề nghị Tòa án để cháu L ở với anh D và gia đình bà.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến:
Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về phía các đương sự, nguyên đơn chấp hành nghiêm chỉnh quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chưa chấp hành nghiêm chỉnh.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56, 81,82,83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lý Thị K được ly hôn anh Đồng Xuân D.
- Về nuôi con chung: Giao cho anh D nuôi con Đồng Thị Ngọc L, sinh ngày 26/6/2016. Cấp dưỡng nuôi con không đề nghị Tòa án giải quyết. Sau khi ly hôn chị K được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở chị thực hiện quyền này.
Ngoài ra còn đề xuất về án phí và quyền kháng cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, HĐXX nhận thấy:
[1] Về tố tụng: Đơn khởi kiện của chị Lý Thị K và các tài liệu nộp kèm theo đơn khởi kiện là hợp lệ, đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về hình thức nội dung đơn khởi kiện. Anh D là bị đơn có hộ khẩu thường trú tại Thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Do đó Tòa án nhân dân huyện Lục Nam thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Về phía anh D tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh D không đến Tòa án làm việc cũng như tham gia phiên tòa xét xử. Toà án cũng đã có công văn trao đổi với Phòng X - Công an tỉnh B hiện nay anh Đồng Xuân D không có thông tin xuất cảnh, chị K do công việc bận nên chị có đơn xin xét xử váng mặt, bà Trần Thị D2 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt vì vậy. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228, Điều 238 BLTTDS, HĐXX đưa vụ án ra xét xử vắng mặt nguyên đơn bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
[2] Về nội dung: Chị Lý Thị K kết hôn với anh Đồng Xuân D năm 2015 trên cơ sở tự nguyện và hợp pháp. Anh chị có đăng ký kết hôn. Cưới xong anh chị về chung sống với nhau ngay và hòa thuận được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống không có tiếng nói chung cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không xây dựng hạnh phúc được với nhau, chị K đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh D, anh D biết chị K gửi đơn ly hôn nhưng anh D không đến Tòa án làm việc cũng không đưa ra ý kiến điều đó chứng tỏ anh không có ý định hàn gắn tình cảm. Hiện nay anh D chị K không còn sống chung với nhau từ năm 2018 cho đến nay không còn quan hệ gì về tình cảm và kinh tế HĐXX thấy cuộc sống vợ chồng giữa chị K và anh D nên cần cho chị K được ly hôn anh D là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Anh chị có 1 con chung cháu Đồng Thị Thùy L1, sinh ngày 26/6/2016 hiện cháu L1 đang ở với ở với anh D và ông bà nội. Sau khi ly hôn chị K đồng ý để anh D nuôi con. Cháu L1 có nguyện vọng được ở với anh D và ông bà nội. Bà D2 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cũng xác nhận cháu L1 đang ở cùng gia đình bà và anh D cháu vẫn khỏe mạnh và phát triển bình thường và bà là người thay anh D trực tiếp chăm sóc cháu và gia đình bà cũng có nguyện vọng đề nghị Tòa án xem xét giao cháu L1 cho anh D chăm sóc. Xét thấy yêu cầu, nguyện vọng của đương sự là chính đáng. Xét thấy là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Về cấp dưỡng nuôi con không đề nghị Tòa án giải quyết. Sau khi ly hôn chị K được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở chị thực hiện quyền này.
[4] Về tài sản, công nợ: Chị K không đề nghị Tòa án giải quyết, nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.
[5] Về án phí: Chị K phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2015; Điều 26, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 272 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về xử lý án phí, lệ phí, tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lý Thị K được ly hôn anh Đồng Xuân D.
- Về nuôi con chung: Giao cho anh D nuôi con Đồng Thị Ngọc L, sinh ngày 26/6/2016. Cấp dưỡng nuôi con không đề nghị Tòa án giải quyết. Sau khi ly hôn chị K được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở chị thực hiện quyền này.
- Về án phí: Chị Lý Thị K phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp tại chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Nam ngày 24/10/2024 theo biên lai thu số 0008523.
- Về quy ền kháng cáo: Báo cho các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lự |
Bản án số 28/2025/HNGĐ - ST ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, con chung
- Số bản án: 28/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
