Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VĨNH YÊN

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2025/HNGĐ-ST

Ngày 18 - 6 - 2025

V/v “Tranh chấp về ly hôn và nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Đường

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thanh Mai

Bà Bùi Thị Thu Hằng

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Cao Hồng Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 102/2025/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp về ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Dương Thị T, sinh năm 1984;

Hộ khẩu thường trú: Thôn R, xã T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc;

Chỗ ở hiện nay: Thôn V, xã Q, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt);

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1984;

Địa chỉ: Thôn R, xã T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 18 tháng 4 năm 2025, những lời khai tiếp theo và tại phiên tòa nguyên đơn chị Dương Thị T trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn H kết hôn ngày 25/12/2009 tại Ủy ban nhân dân xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Trước khi kết hôn, hai bên được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng ở tại xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Đến tháng 9/2013 chị T ra B về ở nhà mẹ đẻ tại thôn V, xã Q, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc. Đến cuối năm 2013 anh H ra B vợ chồng về sống tại thôn R, xã T, thành phố V. Quá trình chung sống, thời gian đầu tình cảm vợ chồng bình thường sau đó có mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống hàng ngày. Đến ngày 22/02/2025 vợ chồng cãi cọ xô sát đánh nhau. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày và làm ăn kinh tế. Chị T bỏ về nhà bố mẹ đẻ từ ngày 22/02/2025, vợ chồng sống ly thân chấm dứt quan hệ tình cảm cho đến nay. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H.

Bị đơn anh Nguyễn Văn H tại phiên tòa vắng mặt nhưng tại bản tự khai và hòa giải anh H trình bày: Anh xác nhận thời gian kết hôn, quá trình chung sống, thời gian mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn, thời gian chị T về nhà bố mẹ đẻ là đúng và xác định tình cảm không còn, chị T xin ly hôn anh cũng đồng ý.

Về con chung: Chị T và anh H có 02 con chung là Nguyễn Dương Việt T1, sinh ngày 01/3/2011 và cháu Nguyễn Trung N, sinh ngày 28/10/2018, hiện nay hai cháu đang ở với anh H.

Ly hôn chị T yêu cầu được nuôi cháu N, để anh H nuôi cháu T1; anh H yêu cầu được nuôi cả hai con chung, về cấp dưỡng nuôi con chị T và anh H đều không yêu cầu.

Hiện nay chị T đang làm công nhân tại Công ty A tại khu công nghiệp B 3, thu nhập trung bình là 12.000.000đ/ tháng. Anh H làm nghề tự do là bốc vác thuê thu nhập là khoảng 10.000.000đ/ tháng.

Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ và công sức: Chị T và anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Xử cho chị Dương Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn H; về con chung: Giao cháu Nguyễn Trung N, sinh ngày 28/10/2018 cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Giao cháu Nguyễn Dương Việt T1, sinh ngày 01/3/2011 cho anh Nguyễn Văn H chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau; về tài sản chung, tài sản riêng và công nợ, công sức: Không yêu cầu Tòa án giải quyết; về án phí: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Dương Thị T làm đơn khởi kiện yêu cầu xin ly hôn và yêu cầu nuôi con chung đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Quan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp về ly hôn và nuôi con. Bị đơn anh Nguyễn Văn H có địa chỉ tại thôn R, xã T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc

- Về việc vắng mặt của bị đơn: Bị đơn anh Nguyễn Văn H đã Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng anh H vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh H theo thủ tục chung.

[2]. Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn thấy rằng: Chị Dương Thị T và anh Nguyễn Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật, đây là cuộc hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Quá trình chung sống thời gian đầu tình cảm vợ chồng bình thường, đến ngày 22/02/2025 vợ chồng mâu thuẫn căng thẳng do vợ chồng cãi cọ, xô sát với nhau. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống và sinh hoạt hàng ngày và làm ăn kinh tế. Chị T bỏ về nhà bố mẹ đẻ từ ngày 22/02/2025, vợ chồng sống ly thân chấm dứt quan hệ tình cảm. Tòa án đã tiến hành hòa giải giữa chị T và anh H, quan điểm của anh H xác định tình cảm vợ chồng không còn chị T xin ly hôn anh H cũng đồng ý. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị T và anh H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T cho chị T ly hôn được ly hôn với anh H.

[2.1]. Về con chung: Chị T và anh H có 02 con chung là Nguyễn Dương Việt T1, sinh ngày 01/3/2011 và cháu Nguyễn Trung N, sinh ngày 28/10/2018, hiện nay hai cháu đang ở với anh H. Ly hôn chị T yêu cầu được nuôi một con chung là cháu N, anh H yêu cầu được nuôi cả hai con chung.

Xét yêu cầu về việc nuôi con của chị T và anh H thấy rằng: Anh chị có hai con chung, tại biên bản lấy lời khai của cháu T1 nguyện vọng của cháu xin được ở với anh H. Về thu nhập chị T và anh H đều có thu nhập tương đương nhau. Đối với cháu N còn nhỏ nên cần giao cho chị T chăm sóc, nuôi dưỡng để cháu được phát triển toàn diện. Vì vậy để đảm bảo quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đối với con chung cần giao cho mỗi người nuôi một cháu, giao cháu N cho chị T chăm sóc, nuôi dưỡng, giao cháu T1 cho anh H chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con do chị T và anh H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không xem xét giải quyết.

[2.2]. Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[2.3]. Về án phí: Chị Dương Thị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc giải quyết vụ án là có căn cứ, được xem xét khi quyết định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, 57, 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147, điểm b, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Cho chị Dương Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn H

1.1 Về con chung: Giao cháu Nguyễn Trung N, sinh ngày 28/10/2018, cho chị Dương Thị T chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Giao cháu Nguyễn Dương Việt T1, sinh ngày 01/3/2011 cho anh Nguyễn Văn H chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự và Luật sửa đổi một số điều của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

1.2. Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

1.3. Về án phí: Chị Dương Thị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0006542 ngày 18 tháng 4 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Chị T đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

2. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Vĩnh Yên;
  • - UBND xã Ia Tô, huyện Ta Grai;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

(Đã ký)

Nguyễn Thị Đường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2025/HNGĐ-ST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về tranh chấp về ly hôn và nuôi con

  • Số bản án: 28/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn và nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger