Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỆ THỦY

TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28 /2025/HNGĐ-ST

Ngày: 17-6-2025

“V/v: Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hải;
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Văn Việt và bà Mai Thanh Huyền;
  • Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thơm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.

Trong ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình mở phiên tòa xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số 41 /2025/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2025 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2025/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thu H, sinh năm 1971, địa chỉ: Thôn X, xã X, huyện L, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt, nhưng có đơn xin giải quyết vắng mặt;

Bị đơn: Ông Dương Cao T, sinh năm 1971, địa chỉ: Thôn X, xã X, huyện L, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt lần thứ hai không rõ lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn bà Trần Thị Thu H trong bản tự khai ngày 03/4/2025, ngày ngày 24/4/2025 trình bày:

Về quan hệ tình cảm: Bà Trần Thị Thu H và ông Dương Cao T, yêu nhau và xây dựng hạnh phúc gia đình trên cơ sở đăng ký kết hôn tự nguyện tại UBND xã X, huyện L, tỉnh Quảng Bình vào ngày 19/02/1999. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc tại thôn X, xã X. Hạnh phúc được khoảng 10 năm thì vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông Dương Cao T thường xuyên có hành vi bạo lực gia đình đối với bà H, đã nhiều lần đánh đập khiến bà H bất tỉnh phải nhập viện Lệ T1, bệnh viện T3 để cấp cứu và điều trị trong một thời gian dài. Nhiều lần, công an xã X đã can thiệp giải quyết tuy nhiên ông T vẫn chứng nào tật đó, không chịu thay đổi. Vợ chồng đã hết tình cảm, sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Trong thời gian bà H dọn ra ngoài sinh sống, ông T vẫn tiếp tục quấy rối, hù dọa đánh đập bà. Nhận thấy hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Dương Cao T.

Về con chung: Vợ chồng bà có hai con chung là Dương Khánh C, sinh ngày 15/01/2000 (đã kết hôn, có cuộc sống riêng) và con Dương Khánh T2, sinh ngày 12/10/2004, hiện đang học Đại học. Ly hôn, bà có nguyện vọng yêu cầu ông T có trách nhiệm nuôi con đến khi học xong Đại học.

Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tham gia giải quyết vụ án tại Toà án: Do bản thân đi làm ở xa, mỗi lần xin nghỉ gặp nhiều khó khăn, bà H không chủ động được thời gian nên bà H không trực tiếp đến tại Toà án để tham gia giải quyết vụ án. Vì vậy, bà H đã xin giải quyết vắng mặt bà.

* Bị đơn, ông Dương Cao T vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai không rõ lý do nhưng theo nội dung bản tự khai ngày 03/4/2025, ông trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông nhất trí như nội dung trình bày của bà H về việc yêu nhau, đăng ký kết hôn và quá trình chung sống của vợ chồng. Riêng về mâu thuẫn nảy sinh của vợ chồng, ông không nhất trí. Theo ông, vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 20 năm thì vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính chất công việc nên ông thường xuyên ăn uống, tụ tập cùng bạn bè, nhưng vợ chồng ông không xảy ra cãi vả. Hiện nay, vợ chồng ông đã sống ly thân được khoảng 5 năm. Xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn nên ông đề nghị Tòa án hòa giải cho vợ chồng được đoàn tụ để cùng nhau nuôi dạy con cái.

Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Dương Khánh C, sinh ngày 15/01/2000 (đã kết hôn, có cuộc sống riêng) và con Dương Khánh T2, sinh ngày 12/10/2004, hiện đang học Đại học. Ông mong muốn vợ chồng được đoàn tụ để cùng nhau nuôi dạy con cái. Tuy nhiên, nếu vợ chồng phải ly hôn, thì ông không đồng ý nuôi con học đại học vì hiện nay ông không có công việc, không có thu nhập ổn định.

Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thu H xin ly hôn ông Dương Cao T là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, về ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Toà án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình thụ lý giải quyết là đúng quy định của pháp luật.

[2] Về xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, nguyên đơn bà H có mặt, bị đơn ông T vắng mặt buổi hoà giải lần hai và phiên toà lần thứ nhất. Tại phiên toà, nguyên đơn có đơn xin giải quyết vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến phiên toà lần thứ hai nhưng vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và trình bày của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án, bà Trần Thị Thu H và ông Dương Cao T kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tự nguyện tại UBND xã X, huyện L, tỉnh Quảng Bình vào ngày 19/02/1999 nên hôn nhân của ông bà là hợp pháp.

[3] Về mâu thuẫn: Theo trình bày của nguyên đơn, bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án, sau khi kết hôn, vợ chồng ông T, bà H chung sống hạnh phúc được khoảng 10 năm thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng về quan điểm sống nên giữa vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vả làm sứt mẻ tình cảm. Ông T thường xuyên có hành vi bạo lực gia đình đối với bà H, gây mất trật tự trị an tại địa phương khiến công an địa phương phải can thiệp nhiều lần. Đặc biệt, đã nhiều lần ông T đánh đập bà H khiến bà H bất tỉnh phải nhập viện Lệ T1, bệnh viện T3 để cấp cứu, điều trị trong một thời gian dài. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Quá trình sống ly thân, ông T thường xuyên có hành vi quấy rối, đánh đập bà H, phá hoại tài sản, làm ảnh hưởng đến quá trình sinh sống của bà H. Nay thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không còn hạnh phúc và không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa nên bà H đề nghị Toà án giải quyết cho bà được ly hôn ông T. Ông Dương Cao T nhất trí với lời trình bày của bà H về quá trình kết hôn, chung sống và nảy sinh mâu thuẫn của vợ chồng. Tuy nhiên, nhận thấy tình cảm vợ chồng vẫn còn nên ông đề nghị vợ chồng được đoàn tụ để cùng nhau nuôi dạy con cái.

[4] Qua xem xét, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo thừa nhận của các bên thì, mâu thuẫn vợ, chồng giữa bà Trần Thị Thu H và ông Dương Cao T thực tế đã xảy ra trong một thời gian dài, do vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng về quan điểm sống. Ông T đã nhiều lần đánh đập, đe doạ đến tính mạng, sức khoẻ của bà H khiến cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau và tình cảm phải xuất phát từ hai phía. Nếu một bên xác định tình cảm vợ chồng không còn, kiên quyết được ly hôn thì dù có hàn gắn đoàn tụ, cuộc sống chung giữa vợ và chồng cũng không thể mang lại hạnh phúc. Ông T đã có hành vi bạo lực gia đình đối với bà H khiến cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của luật Hôn nhân và gia đình, Điều 4 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, cho bà Trần Thị Thu H được ly hôn ông Dương Cao T là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[5] Về nuôi con chung: Theo sự trình bày của bà H, ông T, quá trình chung sống ông, bà sinh ra hai người con chung là Dương Khánh C, sinh ngày 15/01/2000 (đã kết hôn, có cuộc sống riêng) và con Dương Khánh T2, sinh ngày 12/10/2004, hiện đang học Đại học. Ly hôn, bà có nguyện vọng yêu cầu ông T có trách nhiệm nuôi con đến khi học xong Đại học. Tuy nhiên ông T không đồng ý vì ông cho rằng công việc của ông có nguồn thu nhập không ổn định. Xét thấy hai con chung của ông bà là Dương Khánh C và Dương Khánh T2 đều đã trên 18 tuổi, không bị hạn chế về khả năng nhận thức cho nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6] Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thoả thuận về nợ chung, tài sản chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[7] Về án phí: Nguyên đơn bà Trần Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 264, Điều 266 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Trần Thị Thu H được ly hôn ông Dương Cao T.
  2. Về nuôi con chung: Vợ chồng có hai con chung là Dương Khánh C, sinh ngày 15/01/2000 (đã kết hôn, có cuộc sống riêng) và con Dương Khánh T2, sinh ngày 12/10/2004. Hiện nay các con của T, bà H đã trưởng thành, không bị hạn chế về khả năng nhận thức nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thoả thuận về nợ chung, tài sản chung, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  4. Về án phí: Nguyên đơn bà Trần Thị Thu H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm 300.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0004558 ngày 10/3/2025 (bà Trần Thị Thu H đã nộp đủ án phí). Bị đơn ông Dương Cao T không phải chịu án phí.
  5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên toà, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Bình;
  • - VKSND huyện Lệ Thủy;
  • - Chi cục THADS huyện Lệ Thủy;
  • - UBND xã Xuân Thuỷ (để ghi vào sổ
  • Hộ tịch, ĐKKH ngày 19/02/1999);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Lưu VP;

Nguyễn Thanh Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28 /2025/HNGĐ-ST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH về ly hôn

  • Số bản án: 28 /2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger