Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRI TÔN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 28/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 15-04-2025

V/v "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Hiếu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Văn Dũng;

Bà Trần Thị Ngọc Phượng.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Lê Ngọc Trân– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Diễm - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 404/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2025/QĐSXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số:28/2025/QĐSXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 03 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Neang Ka Đ, sinh năm 1987; địa chỉ: Tổ B, ấp P, xã C, huyện T, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: Ông Chau M, sinh năm 1992; địa chỉ: Tổ 1, ấp P, xã C, huyện T, tỉnh An Giang.

(Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt không lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, tờ tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Neang Ka Đ trình bày:

- Về hôn nhân: Bà Neáng Ka Đ và ông Chau M do tự quen biết, tìm hiểu và tiến tới kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào năm 2010, có làm lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, tỉnh An Giang vào ngày 12/08/2010. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, nhưng thời gian sau vợ chồng mẫu thuẫn ngày càng nhiều do tính tình không phù hợp, bất đồng quan điểm sống, ông M không quan tâm lo lắng cho vợ con và vợ chồng không còn thương yêu nhau. Bà Đ và ông M không còn sống cùng nhau từ tháng 08/2024 đến nay, nhưng từ thời gian đó đến nay cả hai không có thiện chí đoàn tụ nên mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn. Nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt nên bà Đ yêu cầu được ly hôn với ông Chau M.

- Về con chung: Bà Đ và ông Chau M có 02 (hai) con chung tên Chau M1, sinh ngày 01/12/2008 và Neáng Kim L, sinh ngày 04/06/2018.

Hiện các con chung do bà trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Khi ly hôn, bà yêu cầu nuôi dưỡng các con chung và không yêu cầu ông Chau M cấp dưỡng.

- Về cấp dưỡng: Không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu toà án giải quyết.

Bị đơn ông Chau M vắng mặt, không cung cấp tài liệu, chứng cứ, không cung cấp ý kiến trình bày.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành hòa giải vụ án, nhưng bị đơn vắng mặt vì vậy các đương sự không hòa giải được với nhau. Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử.

Tại phiên tòa,

Ka Đ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; Ông Chau M vắng mặt không lý do không có ý kiến trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử vụ án;

Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn vắng mặt tại phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải; Tại phiên Tòa xét xử vụ án bị đơn vắng mặt không lý do.

+ Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Bà Đ và ông M tiến tới hôn nhân trên cơ sở tự nguyện vào năm 2010 và có đăng ký kết hôn theo quy định tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, tỉnh An Giang nên ông M và bà Đ là vợ chồng hợp pháp, trong quá trình chung sống cả hai phát sinh nhiều mâu thuẫn, bà Ka Đ và ông M đã ly thân từ tháng 8/2024 đến nay mà không thể hàn gắn được, chứng tỏ hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, nên bà Ka Đ khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Chau M là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Bà Đ và ông M có 02 (hai) con chung tên Chau M1, sinh ngày 01/12/2008 và Neáng Kim L, sinh ngày 04/06/2018. Do hiện bà Đ đang nuôi các con chung và khi ly hôn, bà Đ yêu cầu tiếp tục được nuôi dưỡng các con chung, để tạo điều kiện thuận lợi cho sinh hoạt hàng ngày và không làm xáo trộn cuộc sống của các con chung nên đề nghị giao 02 (hai) con chung cho bà Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng theo quy định tại Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về cấp dưỡng: Do không có yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà N Ka Đanh yêu cầu Tòa án giải quyết việc tranh chấp về hôn nhân gia đình với ông Chau M. Ông M có nơi cư trú tại xã C, huyện T, tỉnh An Giang. Nên, Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại các Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn .

[2] Về hôn nhân: Bà Neang Ka Đ và ông Chau M do tự quen biết, tìm hiểu và tiến tới kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào năm 2010 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, tỉnh An Giang vào ngày 12/08/2010, nên được pháp luật công nhận là vợ chồng theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và G. Bà Ka Đ trình bày nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu do tính tình không phù hợp, bất đồng quan điểm sống, ông M không quan tâm lo lắng cho vợ con và vợ chồng không còn thương yêu nhau. Bà Đ và ông M không còn sống cùng nhau từ tháng 08/2024 đến nay. Do không còn tình cảm với ông M, mục đích hôn nhân không đạt nay bà Đ yêu cầu được ly hôn với ông M.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông M vắng mặt không lý do, theo Biên bản xác minh của Tòa án tại địa phương trả kết quả thể hiện: Ông Chau M, sinh năm 1995, có nơi đăng ký thường trú tại ấp P, xã C, huyện T, tỉnh An Giang. Do bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt, đồng thời không cung cấp tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình và thể hiện ý kiến phản bác đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bị đơn đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại khoản 5 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét thấy, trong mối quan hệ vợ chồng, thì cả hai phải có nghĩa vụ yêu thương, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, để cùng vun đắp hạnh phúc. Tuy nhiên gia đình bà Đ và ông M phát sinh nhiều mâu thuẫn không có giải pháp hòa giải, thời gian ly thân đã lâu mà không hàn gắn được. Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông Chau M tham gia hòa giải và xét xử đến lần thứ hai nhưng ông M vẫn vắng mặt không có lý do, thể hiện ông M không muốn hàn gắn quan hệ vợ chồng. Bà Đ trình bày mâu thuẫn vợ chồng phát sinh và đã sống ly thân từ tháng 08/2024 đến nay mà không thể đoàn tụ, nên bà Đ cương quyết ly hôn ông M. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân của bà Đ và ông M đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu duy trì hôn nhân cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Neang Ka Đ được ly hôn ông Chau M.

[3] Về con chung: Bà Đ và ông Chau M có 02 (hai) con chung tên Chau M1, sinh ngày 01/12/2008 và Neáng Kim L, sinh ngày 04/06/2018. Hiện các con chung do bà Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Khi ly hôn, bà yêu cầu nuôi dưỡng các con chung.

Do ông M không có tranh chấp nuôi con chung, các con chung hiện chưa thành niên. Trong quá trình giải quyết vụ án, tại biên bản ghi lời khai cháu Chau M1 có nguyện vọng được chung sống với mẹ sau khi cha mẹ ly hôn. Xét về điều kiện, tại biên bản xác minh địa phương trả kết quả hiện bà Đ đang là người trực tiếp nuôi các con chung, để đảm bảo cho cuộc sống ổn định, lợi ích về mọi mặt của các con chung. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Neáng Ka Đ được trực tiếp nuôi dưỡng, nuôi dưỡng 02 (hai) con chung tên Chau M1, sinh ngày 01/12/2008 và Neáng Kim L, sinh ngày 04/06/2018.

Đ cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông Chau M trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Đ không có yêu cầu nên không xét đến.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Đ không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xét đến.

[6] Về án phí: Bà Đ phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Ông Chau M không phải chịu án phí.

[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được kháng cáo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228, Điều 244; khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280; Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Neang Ka Đ.

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Neáng Ka Đ đối với ông Chau M.
  2. Về con chung: Giao con chung tên Chau M1, sinh ngày 01/12/2008 và Neáng Kim L, sinh ngày 04/06/2018 cho bà N Ka Đanh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

    Đ và gia đình phải tạo điều kiện thuận lợi cho ông Chau M được thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

    Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

  3. Về án phí: Bà Neang Ka Đ phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0012875, ngày 19 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tri Tôn. Bà Đ đã nộp xong án phí.
  4. Về quyền kháng cáo:

    Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

    Bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND huyện Tri Tôn;
  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Tri Tôn;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu VP (6).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Trung Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2025/HNGĐ-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 28/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger