|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ HÒA TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 28/2025/HNGĐ-ST Ngày: 12/6/2025 Về việc “tranh chấp ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Cao Thị Thu Hà;
Các Hội thẩm nhân dân: ông Phạm Hoàn Thiện và ông Lê Bá Tự.
Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Cẩm Thoang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: ông Bùi Xuân Tùng – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 04/2025/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2025 về việc “tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 22/2025/QÐST-HNGĐ ngày 26/5/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Thục Q, sinh năm 1994; địa chỉ: thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Xin vắng mặt.
- Bị đơn: anh Nguyễn Hoàng C, sinh năm 1993; địa chỉ: thôn M, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và tài liệu có tại hồ sơ nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thục Q trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: chị Q và anh C tự nguyện tìm hiểu và đi đến kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, cải vã nhau về tài chính do anh C không có thu nhập để chăm lo cho con, mọi chi phí cho con chị Q phải tự lo. Do áp lực về tài chính nên vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau. Dù đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng vợ chồng vẫn không hòa hợp được nên từ tháng 4/2023 đến nay vợ chồng sống ly thân không ai quan tâm đến ai. Nay cảm thấy mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn nên chị Q yêu cầu được ly hôn với anh C.
Về con chung: có 01 con chung là cháu Nguyễn Linh Đ, sinh 23/5/2018. Hiện nay cháu đang ở cùng với mẹ nên chị Q yêu cầu được tiếp tục nuôi con. Yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con tối thiểu 3.000.000 đồng/tháng. Nếu anh C không đồng ý mức cấp dưỡng trên thì chị Q đồng ý mức cấp dưỡng là 1.500.000 đồng/tháng.
Về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Hoàng C đã được triệu tập hợp lệ và tống đạt các văn bản tố tụng tuy nhiên anh C không đến Tòa và không gửi đơn trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó Tòa án không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Hòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về thủ tục tố tụng: trong quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Các đương sự được triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn vắng mặt 02 lần không có lý do, đề nghị Toà án tiến hành xét xử theo quy định.
Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Q. Về quan hệ hôn nhân cho chị Q được ly hôn anh C; về con chung giao cháu Nguyễn Linh Đ, sinh 23/5/2018 cho chị Q tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng; anh C phải cấp dưỡng nuôi con 1.500.000 đồng/tháng cho đến khi nghĩa vụ cấp dưỡng chấm dứt theo Điều 118 Luật hôn nhân gia đình; về tài sản chung không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; ý kiến Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Chị Nguyễn Thị Thục Q khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Nguyễn Hoàng C hiện đang cư trú tại thôn M, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa.
[1.2] Nguyên đơn và bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nguyên đơn chị Q có đơn xin xét xử vắng mặt, anh C vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ các Điều 227, 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: chị Q và anh C tự nguyện tìm hiểu nhau, đi đến hôn nhân và được Ủy ban nhân dân xã H cấp Giấy chứng nhận kết hôn Số 32/2017 ngày 07/4/2017 là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống giữa chị Q và anh C phát sinh mâu thuẫn về tài chính nên thường xuyên cãi vã nhau. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên chị Q và anh C sống ly thân từ tháng 4/2023 đến nay không ai quan tâm đến ai. Điều này phù hợp với trình bày của bà Đoàn Thị N (là mẹ ruột anh C). Xét thấy, quá trình Tòa án giải quyết vụ án anh C đã được tống đạt các thông báo, văn bản tố tụng nhưng anh C không đến Tòa án để hòa giải và giải quyết mâu thuẫn với chị Q là không quan tâm níu kéo, hàn gắn tình cảm vợ chồng, chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Q được ly hôn với anh C.
[2.2] Về con chung: có 01 con chung là cháu Nguyễn Linh Đ, sinh 23/5/2018. Xét thấy, sau khi vợ chồng sống ly thân thì cháu Đ ở cùng mẹ cho đến nay, để đảm bảo cho cháu được ổn định về chỗ ở, được chăm sóc, phát triển tốt cả về thể chất và tinh thần thì cần chấp nhận giao cháu Đ cho chị Q tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: chị Q yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con tối thiểu 3.000.000 đồng/tháng vì chi phí học tập ở thành phố Hồ Chí Minh cao. Tuy nhiên chị Q không cung cấp cho Tòa chi phí cho nhu cầu thiết yếu hàng tháng của cháu Đ, thu nhập của anh C nên không có cơ sở để HĐXX xem xét mức cấp dưỡng theo yêu cầu của nguyên đơn. Chị Q đồng ý nếu anh C không đồng ý mức cấp dưỡng 3.000.000 đồng thì yêu cầu anh C cấp dưỡng 1.500.000 đồng/tháng. Xét thấy mức cấp dưỡng này là phù hợp nên HĐXX chấp nhận. Anh C phải cấp dưỡng nuôi con 1.500.000 đồng/tháng kể từ khi bản án có hiệu lực đến khi nghĩa vụ cấp dưỡng chấm dứt theo quy định tại Điều 118 Luật hôn nhân gia đình.
Anh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung hoặc mức cấp dưỡng nuôi con chung.
[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: không có yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.
[3] Về án phí: căn cứ Điều 27 nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án: chị Q phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, anh công phải chịu 300.000 đồng án phí về cấp dưỡng nuôi con.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, 56, 57, 82, 83, 84, 107 Luật Hôn nhân và gia đình;
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thục Q.
- Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Thục Q được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng C.
- Về con chung: giao con chung là cháu Nguyễn Linh Đ, sinh 23/5/2018 cho chị Nguyễn Thị Thục Q tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng.
Anh Nguyễn Hoàng C phải cấp dưỡng nuôi con 1.500.000 đồng/tháng (Một triệu năm trăm nghìn đồng). Thời gian cấp dưỡng nuôi con được tính kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi nghĩa vụ cấp dưỡng được chấm dứt theo quy định tại Điều 118 Luật hôn nhân gia đình.
Anh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung hoặc mức cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về án phí: chị Nguyễn Thị Thục Q phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm về yêu cầu ly hôn, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0005209 ngày 20/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Hòa. Anh Nguyễn Hoàng C phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con.
Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yều cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Quyền kháng cáo: nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Thị Thu Hà |
Bản án số 28/2025/HNGĐ-ST ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ HÒA, TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 28/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp ly hôn
