Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2025/HNGĐ-ST
Ngày 11 - 4 - 2025
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Quang Tú
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Viết Thủy
Bà Đinh Thị Hương

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Hồng Nhung, là Thư ký tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Ông Đào Đức Thông, Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử sơ công khai vụ án thụ lý số 124/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị T, sinh năm 1989; Nơi thường trú: Số F, ngõ B, đường H, phường L, quận B, Thành phố Hà Nội; Địa chỉ: D H, 1183-4 Y-dong, J-gu, C-si, K-do, Hàn Quốc; “vắng mặt”

- Bị đơn: Anh Bùi Quang P, sinh năm 1988; Nơi thường trú: Xóm A, thôn N, xã P, huyện K, tỉnh Hưng Yên; Địa chỉ: Tòa nhà A, lô C, 60-5 S-ri, Poseung-eup, P1-si, G-do, Hàn Quốc; “vắng mặt”

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Cháu Bùi Quang B, sinh ngày 14 tháng 02 năm 2019; Địa chỉ: Xóm A, thôn N, xã P, huyện K, tỉnh Hưng Yên “vắng mặt"

Người giám hộ: Chị Phạm Thị T, anh Bùi Quang P, là mẹ, bố; “ đều vắng mặt”

- Người làm chứng: Ông Bùi Quang H, sinh năm 1955; Địa chỉ: Xóm A, thôn N, xã P, huyện K, tỉnh Hưng Yên; “vắng mặt” .

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Phạm Thị T trình bày: Chị và anh Bùi Quang P tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện K, tỉnh Hưng Yên ngày 25 tháng 01 năm 2018. Vợ chồng chung sống hạnh phúc và đã có con chung nhưng sau khi có con, cuộc sống gia đình khó khăn nên cuối năm 2019, chị sang Hàn Quốc lao động. Từ tháng 01 năm 2022, vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính cách của hai vợ chồng không còn như ban đầu. Do mâu thuẫn không giải quyết được mà ngày càng thường xuyên và trầm trọng hơn nên vợ chồng đã sống ly thân được 02 năm. Chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên giải quyết cho chị được ly hôn anh P.

Vợ chồng có một con chung là Bùi Quang B, sinh ngày 14 tháng 2 năm 2019 đang ở với ông bà nội là ông Bùi Quang H và bà Hoàng Thị C1 nên để tránh ảnh hưởng đến sinh hoạt, học tập của con chị đề nghị giao cháu B cho anh P chăm sóc và nuôi dưỡng con sau khi vợ chồng ly hôn. Chị và anh P sẽ tự thỏa thuận về việc cấp dưỡng nuôi con nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị Phạm Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản, nghĩa vụ chung và các vấn đề khác.

Bị đơn anh Bùi Quang P công nhận lời khai của chị Phạm Thị T về thời gian đăng ký kết hôn, quá trình chung sống, con chung và trình bày: Anh đi lao động tại Hàn Quốc từ tháng 3 năm 2020 anh sang Hàn Quốc lao động. Vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ tháng 01 năm 2022, cả hai đều đã nhiều lần nói chuyện để hàn gắn và cũng được hai bên gia đình động viên, khuyên bảo nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên đã sống ly thân được 2 năm. Do không thống nhất về quan điểm sống nên vợ chồng không thể hòa hợp, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được do đó anh nhất trí ly hôn với chị T để cả hai ổn định cuộc sống, không làm ảnh hưởng đến nhau.

Con chung của anh và chị T là Bùi Quang B, sinh ngày 14 tháng 2 năm 2019 đang ở với bố mẹ anh là ông Bùi Quang H và bà Hoàng Thị C1 nên sau khi ly hôn anh đề nghị được trực tiếp, chăm sóc và nuôi dưỡng con và không yêu cầu chị T phải đóng góp nuôi con. Trong thời gian anh xa nhà anh đề nghị tạm giao cháu B cho ông bà nội chăm sóc.

Về tài sản, nghĩa vụ chung anh không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đang sống tại Hàn Quốc nên anh ủy quyền cho bố mẹ anh là ông Bùi Quang H và bà Hoàng Thị C1 nhận thay các văn bản tố tụng của Tòa án.

Người làm chứng ông Bùi Quang H, bố anh Bùi Quang P trình bày:

Chị Phạm Thị T và anh Bùi Quang P tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại xã P, huyện K, tỉnh Hưng Yên năm 2018. Sau khi kết hôn anh chị chung sống cùng gia đình ông đến năm 2019 chị T sang Hàn Quốc lao động và một năm anh P cũng sang Hàn Quốc lao động. Anh P vẫn thường xuyên liên lạc với ông và gửi tiền về để nuôi dưỡng cháu B. Ông không biết nguyên nhân mâu thuẫn của anh P và chị T, anh chị phải tự quyết định về việc vợ chồng chung sống được với nhau hay không. Nếu anh P và chị T ly hôn ông đề nghị Tòa án giao cháu B cho anh P nuôi dưỡng vì cháu đang sống cùng ông và ông sẽ chăm sóc, nuôi dưỡng cháu B cho đến khi anh P về Việt Nam.

Phòng Q, Công an tỉnh H cung cấp: Anh Bùi Quang P, sinh ngày 27/8/1988; Địa chỉ: N, P, huyện K, Hưng Yên. Số hộ chiếu C9274250, xuất cảnh ngày 25/02/2021 qua cửa khẩu S. Chị Phạm Thị T, sinh ngày 07/10/1989; Địa chỉ: Nhà F, ngõ B H, L, quận B, TP Hà Nội. Số hộ chiếu C8199208, xuất cảnh ngày 05/03/2020 qua cửa khẩu S.

Tại phiên tòa:

Các đương sự đều đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Chủ tọa phiên tòa công bố tóm tắt nội dung vụ án và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên phát biểu ý kiến:

- Việc chấp hành pháp luật: Kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, và các đương sự đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 57, 81, 82, và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Các Điều 147, 228, 229 và Điều 238 BLTTDS. Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của HĐTP TANDTC. Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị T, xử: Công nhận chị Phạm Thị T và anh Bùi Quang P thuận tình ly hôn. Về con: Giao anh P nuôi con chung là Bùi Quang B sinh ngày 14/2/2019, ghi nhận sự tự nguyện của anh P không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con. Tài sản, nghĩa vụ chung và các vấn đề khác không đặt ra giải quyết. Chấp nhận sự tự nguyện của chị T chịu toàn bộ án phí sơ thẩm ly hôn.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Trên cơ sở xem xét, đánh giá toàn diện, khách quan, đầy đủ các chứng cứ, lời trình bầy của các đương sự, và quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Theo công văn số 3353/PA08 ngày 24 tháng 12 năm 2024 của Phòng Q, Công an tỉnh H đã có căn cứ xác định anh Bùi Quang P, chị Phạm Thị T đang sinh sống tại nước ngoài nên Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên thụ lý, giải quyết vụ án là phù hợp quy định tại Điều 35, và điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng đều đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo Điều 228 và Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  3. Chị Phạm Thị T và anh Bùi Quang P tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện K, tỉnh Hưng Yên ngày 25 tháng 01 năm 2018 nên hôn nhân của anh chị được pháp luật công nhận. Lời khai của anh chị phù hợp với lời khai của người làm chứng đã có căn cứ xác định sau khi kết hôn vợ chồng chung sống một thời gian thì đều đi làm việc tại Hàn Quốc dẫn đến vợ chồng không thống nhất được trong cuộc sống. Vợ chồng mâu thuẫn từ tháng 01 năm 2022 và đã sống mỗi người một nơi không quan tâm đến nhau từ năm 2023 chứng tỏ hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài anh chị đều đề nghị được ly hôn là phù hợp với thực tế hôn nhân vợ chồng nên được chấp nhận.
  4. Quan điểm về con chung khi ly hôn của chị Phạm Thị T và anh Bùi Quang P phù hợp với nguyện vọng của con và thực tế chăm sóc, nuôi dưỡng nên sẽ giao anh P chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Bùi Quang B sinh ngày 14 tháng 02 năm 2019. Quan điểm không yêu cầu được cấp dưỡng nuôi con chung của anh P là tự nguyện và phù hợp pháp luật nên không đặt ra xem xét.

    Quan điểm của anh P và bố là ông Bùi Quang H về việc chăm sóc cháu B trong thời gian anh P làm việc ở nước ngoài là phù hợp khoản 4 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình nên theo Điều 46, Điều 47, Điều 62 Bộ luật Dân sự sẽ giao ông H giám hộ cháu B cho đến khi anh P có đủ điều kiện để thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình.

  5. Về tài sản, nghĩa vụ chung và các vấn đề khác: Chị Phạm Thị T và anh Bùi Quang P không yêu cầu nên không giải quyết.
  6. Quan điểm chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm của chị Phạm Thị T là tự nguyện và phù hợp quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 228, Điều 229, và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 116, Điều 117, và Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình. Điều 46, Điều 47, Điều 62 Bộ luật Dân sự. Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử công nhận sự thỏa thuận của chị Phạm Thị T và anh Bùi Quang P:

  1. Quan hệ hôn nhân:
  2. Chị Phạm Thị T và anh Bùi Quang P thuận tình ly hôn.

  3. Con chung:
  4. Anh Bùi Quang P trực tiếp nuôi con chưa thành niên là cháu Bùi Quang B, sinh ngày 14 tháng 2 năm 2019. Công nhận sự tự nguyện anh Bùi Quang P không yêu cầu được cấp dưỡng nuôi con chung. Trên cơ sở lợi ích của con, anh Bùi Quang P có quyền yêu cầu thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con chưa thành niên.

    Chị Phạm Thị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nếu chị T lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì anh Bùi Quang P có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của chị T.

    Chị Phạm Thị T và anh Bùi Quang P hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

    Giao ông Bùi Quang H giám hộ cháu Bùi Quang B cho đến khi anh Bùi Quang P đủ điều kiện để thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình.

  5. Tài sản chung, nghĩa vụ chung, và các vấn đề khác:
  6. Không giải quyết.

  7. Về án phí:
  8. Chị Phạm Thị T tự nguyện chịu 150.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000080 ngày 08 tháng 11 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên; Hoàn trả lại chị T số tiền chênh lệch 150.000 đồng.

  9. Quyền kháng cáo:
  10. Chị Phạm Thị T và anh Bùi Quang P được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Phùng Hưng;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - Cục THADS tỉnh Hưng Yên;
  • - Lưu: VT, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Quang Tú

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2025/HNGĐ-ST ngày 11/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 28/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con sau khi ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger