Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LẬP THẠCH

TỈNH VĨNH PHÚC

Bản án số: 28/2025/HNGĐ-ST

Ngày 10 tháng 6 năm 2025

“V/v: Tranh chấp Hôn nhân và Gia đình"

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Trần Hữu Lực

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Trung Thành

bà Đỗ Thị Kim Hạnh

- Thư ký phiên toà: bà Trần Thị Kim Dung – Thư ký Toà án nhân dân huyện Lập Thạch.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch tham gia phiên tòa: ông Đỗ Xuân Phú – Kiểm sát viên

Ngày 10 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 42/2025/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2025, về việc tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị N, sinh ngày 24/12/1986

Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; Địa chỉ hiện nay: Thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, có mặt.

Bị đơn: Anh Nguyễn Mạnh H, sinh ngày 02/5/1981

Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn đề ngày 11/3/2025 và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là chị Đỗ Thị N trình bày:

Chị và anh H kết hôn ngày 18/12/2004. Trước khi kết hôn có được tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện L. Sau khi cưới, chị về làm dâu và chung sống cùng gia đình anh H được 02 năm thì vợ chồng ở riêng. Vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2009 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng luôn nghi ngờ không tin tưởng nhau, anh H thường xuyên uống rượu về đánh đập chị. Chị về nhà bố, mẹ đẻ ở vợ chồng sống ly thân từ tháng 10/2024 đến nay. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H.

Về con chung: Chị và anh H có 03 con chung tên là Nguyễn Duy M, sinh ngày 07/11/2006; Nguyễn Trà M1, sinh ngày 31/8/2009 và Nguyễn Trí V, sinh ngày 23/11/2012. Hiện nay cháu M1, V đang ở cùng anh H còn cháu M đang đi nghĩa vụ quân sự. Ly hôn chị đề nghị được nuôi cháu Nguyễn Trà M1 còn để anh H được nuôi cháu Nguyễn Trí V, hai bên không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng nhau. Đối với cháu M đã thành niên và có thể lao động tự túc được nên chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ và công sức: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Mạnh H vắng mặt tại phiên tòa nhưng tại bản tự khai ngày 08/4/2025 và biên bản hòa giải ngày 11/4/2025 trong quá trình giải quyết anh H trình bày:

Anh cũng xác định về điều kiện kết hôn, thời gian kết hôn, quá trình vợ chồng chung sống như chị N trình bày là đúng. Nhưng theo anh vợ chồng chung sống đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do chị N ngoại tình từ đó dẫn đến vợ chồng hay cãi chửi nhau. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn anh xin được đoàn tụ cùng chị N.

Về con chung: Anh xác định như chị N trình bày là đúng. Nếu có sự ly hôn anh đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung là cháu M1, cháu V và không yêu cầu chị N phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh. Đối với cháu M đã thành niên và có thể lao động tự túc được nên anh không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức: Anh H không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch phát biểu quan điểm: Trong quá trình giải quyết vụ án cho đến giai đoạn Hội đồng xét xử, nghị án đã thực hiện đầy đủ, trình tự đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về đường lối giải quyết vụ án, Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử cho chị N được ly hôn anh H; giao cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Trà M1, sinh ngày 31/8/2009; giao cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Trí V, sinh ngày 23/11/2012; đối với cháu Nguyễn Duy M, sinh ngày 07/11/2006 đã thành niên chị N và anh H không đề nghị giải quyết nên không xem xét; về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức do chị N, anh H không đề nghị giải quyết nên không xem xét; về án phí, chị N phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Căn cứ vào đơn khởi kiện, tài liệu kèm theo đơn khởi kiện của chị Đỗ Thị N và các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án. Xác định đây là quan hệ tranh chấp Hôn nhân và gia đình “Xin ly hôn và nuôi con chung”. Bị đơn là anh Nguyễn Mạnh H có địa chỉ tại xã Đ, huyện L nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện Lập Thạch theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhiều lần đối với anh H nhưng anh H không chấp hành nghiêm túc nhiều buổi làm việc vẫn cố tình vắng mặt không đến tòa. Tòa án đã tiến hành thông báo và triệu tập anh H đến phiên tòa, trước khi khai mạc phiên tòa anh H có đến Tòa án nhưng sau đó anh H đã bỏ về khi khai mạc phiên tòa không có lý do nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đương sự theo điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Cuộc hôn nhân giữa chị Đỗ Thị N và anh Nguyễn Mạnh H là cuộc hôn nhân hợp pháp, xây dựng trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Quá trình vợ chồng chung sống do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tin tưởng nhau nên từ đó thường xuyên xảy ra mâu thuẫn đánh, cãi chửi nhau. Tháng 10/2024 chị N về nhà bố mẹ đẻ anh ở, vợ chồng sống ly thân và cắt đứt mọi quan hệ cho đến nay. Chị N xin ly hôn còn anh H xin đoàn tụ.

Xét tình cảm vợ chồng giữa chị N và anh H mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh H cố tình vắng mặt không đến Toà án để giải quyết việc chị N có đơn xin ly hôn anh, như vậy phần nào thể hiện nguyện vọng xin đoàn tụ của anh H là không thực tâm và cũng không có biện pháp để hòa giải vợ chồng. Do vậy đề nghị của chị N xin ly hôn anh H là có căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và Gia đình nên được chấp nhận.

[3] Xét đề nghị của chị N và anh H về việc nuôi con chung thấy rằng: Về quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm nuôi con chung của chị N và anh H đều như nhau trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung chưa thành niên. Chị N và anh H đều có đủ điều kiện để nuôi dưỡng con chung. Cháu Nguyễn Trà M1 là cháu gái nên cần sự chăm sóc của mẹ hơn. Do vậy để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chung sau ly hôn nên đề nghị của chị N xin trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu M1, giao cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu V, hai bên không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng nhau là có căn cứ nên được chấp nhận. Đối với đề nghị của anh H về việc xin nuôi cả cháu M1 và cháu V là không có căn cứ chấp nhận.

Đối với cháu Nguyễn Duy M đã thành niên và có thể lao động tự túc được chị N và anh H không đề nghị Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[4] Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức: Chị N, anh H không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Chị Đỗ Thị N phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu án phí, lệ phí Tòa án;

Xử: Cho chị Đỗ Thị N được ly hôn anh Nguyễn Mạnh H.

Giao cho chị N trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Nguyễn Trà M1, sinh ngày 31/8/2009; Giao cho anh H trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Nguyễn Trí V, sinh ngày 23/11/2012 (Hiện nay cả hai cháu đang ở với anh H). Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng nhau.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự, có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức: Chị N, anh H không đề nghị giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Chị Đỗ Thị N phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ theo biên lai số 0007564 ngày 11/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lập Thạch.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án chị N có mặt có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Anh H vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày giao nhận bản án hoặc niêm yết tại UBND nơi cư trú của người vắng mặt.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Lập Thạch;
  • - Chi cục THADS Lập Thạch;
  • - UBND xã Đ;
  • - Các đương sự,
  • - Lưu: Hồ sơ, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Hữu Lực

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2025/HNGĐ-ST ngày 10/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH, TỈNH VĨNH PHÚC về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 28/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và Gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân Hùng tranh chấp hôn nhân gia đình
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger