Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2025/HNGĐ-ST

Ngày 10/4/2025

V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Cẩm Lình.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Quang Tuyến

Ông Ngô Rạng Đông

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Xuyên, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc tham gia phiên toà: Ông Trần Quốc Toản – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 4 năm 2025 tại Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 11/2025/TLST - HNGĐ ngày 14/01/2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 04/3/2025, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Huỳnh Kim H, sinh năm 1972. Địa chỉ: Ấp D, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (Có đơn xin vắng mặt).

* Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1976. Địa chỉ: Ấp D, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (Vắng mặt không lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Huỳnh Kim H trình bày và yêu cầu như sau:

- Về hôn nhân: Chị H và anh H1 chung sống với nhau từ năm 2001. Cả hai quen biết nhau và tự nguyện tiến tới hôn nhân. Đồng thời, anh chị có thực hiện việc đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 29/10/2001.

Trong quá trình chung sống, vợ chồng hạnh phúc đến đầu năm 2024 thì giữa vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh H1 thường xuyên ăn nhậu, chửi bới và không quan tâm, chăm sóc đến gia đình, vợ chồng luôn bất đồng ý kiến nên thường hay cự cãi, tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc. Ngoài ra, anh H1 còn có mối quan hệ tình cảm bất chính với người phụ nữ khác bên ngoài. Do đó, chị H và anh H1 đã ly thân với nhau từ tháng 5/2024 đến nay không thể hàn gắn được.

Xét thấy, hiện nay tình cảm vợ chồng không còn nữa do mâu thuẫn giữa anh chị ngày càng trầm trọng, hôn nhân không thể kéo dài nên chị H khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh H1.

- Về con chung: Chị và anh H1 có 02 con chung là Nguyễn Thị Ngọc H2 (sinh ngày 10/4/2000) và Nguyễn Thị Ngọc T (sinh ngày 15/9/2002), Hiện nay, 02 con chung đã trưởng thành nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Chị và anh H1 tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Chị H cam kết, trong quá trình chung sống không có phát sinh nợ chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Nguyễn Văn H1 trình bày như sau:

Qua lời trình bày của chị H về ngày vợ chồng chung sống, có 02 con chung hiện nay đã trưởng thành, có tài sản chung nhưng vợ chồng tự thỏa thuận, không có nợ chung, nguyên nhân mâu thuẫn và thời gian ly thân của anh và chị H là đúng.

Từ khi ly thân đến nay, chị H sống với con gái ở D, còn anh thì sống ở ấp D, xã C. Cả hai không có liên lạc với nhau.

Tuy nhiên, hiện tại anh vẫn còn thương vợ con nên anh không đồng ý ly hôn với chị H1.

- Về con chung : 02 con chung là Nguyễn Thị Ngọc H2 (sinh ngày 10/4/2000) và Nguyễn Thị Ngọc T (sinh ngày 15/9/2002). Hiện nay, đã trưởng thành nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Anh và chị H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại phiên tòa:

  • - Chị H: Vắng mặt không có lời trình bày.
  • - Anh H1: Vắng mặt không có lời trình bày.
  • - Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và người tham gia tố tụng: Đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

+ Về hôn nhân: Cho chị H được ly hôn với anh H1.

+ Về con chung: Chị H và anh H1 có 02 con chung là Nguyễn Thị Ngọc H2 (sinh ngày 10/4/2000) và Nguyễn Thị Ngọc T (sinh ngày 15/9/2002) hiện nay đã trưởng thành, chị H và anh H1 không có yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

+ Về tài sản chung và nợ chung: Chị H và anh H1 xác định không có yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

+ Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Buộc chị H chịu số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (gọi tắt là HĐXX) nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Huỳnh Kim H khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn H1 là tranh chấp dân sự về hôn nhân và gia đình. Qua yêu cầu của đương sự trong vụ án được xác định mối quan hệ pháp luật là “Ly hôn”.

Khi nguyên đơn khởi kiện được Tòa án thụ lý vụ án giải quyết thì bị đơn đang cư trú và sinh sống tại ấp D, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và triệu tập tham gia phiên tòa sơ thẩm đối với anh H1 nhưng anh H1 đều vắng mặt không có lý do. Trường hợp vắng mặt của anh H1 không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan và chị H có đơn xin xét xử vắng mặt nên HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt chị H và anh H1.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh H1 chung sống với nhau từ năm 2001, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 29/10/2001 theo đúng quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Xét yêu cầu của chị H về việc ly hôn với anh H1: Chị H cho rằng trong thời gian chung sống giữa chị và anh H1 thường xuyên bất đồng quan điểm với nhau, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng và kéo dài, anh H1 cũng có quan hệ tình cảm bất chính với người phụ nữ khác bên ngoài dẫn đến việc anh chị ly thân với nhau từ tháng 5/2024 cho đến nay không thể hàn gắn được, việc ly thân và nguyên nhân mâu thuẫn cũng được anh H1 thừa nhận là đúng.

Tòa án đã tiến hành hòa giải nhằm động viên anh chị trở về chung sống, tiếp tục xây dựng hạnh phúc gia đình nhưng anh H1 không đồng ý ly hôn với chị H với lý do anh còn thương vợ con. Tuy nhiên, chị H cương quyết ly hôn với anh H1.

Qua lời trình bày của chị H và anh H1 trong quá trình giải quyết đã xác nhận mâu thuẫn xảy ra giữa anh chị trong quá trình chung sống và đến nay không hàn gắn được là có thật. Mặc dù, anh H1 không đồng ý ly hôn nhưng chị H cương quyết ly hôn vì cho rằng cuộc sống hôn nhân giữa chị H và anh H1 không còn hạnh phúc, mâu thuẫn giữa anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên hôn nhân giữa anh chị không thể hàn gắn.

Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, HĐXX chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và yêu cầu của chị H. Cho chị H được ly hôn với anh H1.

[3] Về quan hệ con chung: Trong quá trình giải quyết, chị H và anh H1 xác định có 02 con chung là Nguyễn Thị Ngọc H2 (sinh ngày 10/4/2000) và Nguyễn Thị Ngọc T (sinh ngày 15/9/2002) hiện nay đã trưởng thành nên anh chị không có yêu cầu giải quyết. Do đó, HĐXX không xem xét.

[4] Về tài sản chung: Trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa, chị H và anh H1 xác định vợ chồng sẽ tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.

[5] Về nợ chung: Trong quá trình giải quyết, chị H và anh H1 xác định không có nên HĐXX không xem xét.

[6] Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm (thuận tình ly hôn): Chị H tự nguyện chịu toàn bộ án phí với số tiền là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Huỳnh Kim H được ly hôn với anh Nguyễn Văn H1.
  2. Về con chung: 02 cháu Nguyễn Thị Ngọc H2 (sinh ngày 10/4/2000) và Nguyễn Thị Ngọc T (sinh ngày 15/9/2002) hiện nay đã trưởng thành, chị H và anh H1 không có yêu cầu giải quyết. HĐXX không xem xét.
  3. Về tài sản chung: Chị H và anh H1 tự thỏa thuận nên HĐXX không xem xét.
  4. Về nợ chung: Chị H và anh H1 xác định, không có nên HĐXX không xem xét.
  5. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc chị Huỳnh Kim H chịu toàn bộ số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006944 ngày 03/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang nên chị H không phải nộp thêm.
  6. Quyền kháng cáo: Chị H và anh H1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND Tp. Phú Quốc;
  • - TAND tỉnh KG;
  • - UBND xã Cửa Cạn;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trịnh Thị Cẩm Lình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2025/HNGĐ-ST ngày 10/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG về ly hôn

  • Số bản án: 28/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chị H khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh H1; con chung đã trưởng thành, tài sản chung tự thỏa thuận, nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa giải quyết
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger