Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 28/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 10/4/2025

V/v tranh chấp ly hôn, nợ chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Lâm Hoàng Huynh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đỗ Minh Tân;
  2. Bà Nguyễn Thị Hoàng Vinh;

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Minh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Trần Huỳnh Bảo Nhi- Kiểm sát viên

Ngày 10 tháng 4 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 316/2024/TLST- HNGĐ, ngày 17/10/2024 về “Tranh chấp ly hôn, nợ chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 04/03/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 40/2025/QĐST – HN ngày 25/3/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Trần Thị T, sinh năm 1973 (có mặt);

Địa chỉ: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp

Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc E, sinh năm 1971 (vắng mặt);

Địa chỉ: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị Tuyết M, sinh năm 1960 (có mặt); Địa chỉ: Tổ 1, ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, biên bản ghi lời khai và tại phiên toà nguyên đơn bà Trần Thị T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: bà T và ông Ngọc E quen biết do mai mối, sau đó cả hai quyết định tiến tới hôn nhân, được gia đình tổ chức lễ cưới vào tháng 3 năm 1993 và chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp vào ngày 12/5/2004. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng về sau, ông Ngọc E có tính gia trưởng, thường xuyên nhậu nhẹt, về chửi mắng bà T, nên cuộc sống hôn nhân dần mất đi hạnh phúc, bà T phải chịu đựng cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc trong khoảng thời gian dài, từ năm 2009 bà T và ông N đã sống ly thân, mặc dù ở chung nhà, nhưng tiền ai nấy sử dụng, mỗi người có cuộc sống riêng, bà T, ông N tự làm thuê làm mướn để có thu nhập để tự nuôi bản thân. Cảm thấy không thể sống cùng ông Ngọc E, nên bà T bỏ đi làm từ khoảng tháng 4 năm 2024 cho đến nay.

Hiện nay tình cảm không còn nên bà Trần Thị T yêu cầu xin ly hôn với ông Nguyễn Ngọc E.

- Về con chung: Có 01 con chung là anh Nguyễn Phước N, sinh năm 1994. Hiện con chung đã trưởng thành, tự lao động nuôi sống bản thân được nên bà T không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về tài sản chung: bà T trình bày tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Bà T xác định có vay của bà Trần Thị Tuyết M số tiền là 30.000.000 đồng để trị bệnh cho con là anh Nguyễn Phước N và chi tiêu cho gia đình, bà T vay của bà M làm nhiều lần, mỗi lần từ 2.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng, tổng cộng là 30.000.000 đồng, bà T có đóng lãi cho bà M được 5.000.000 đồng. Khi mượn tiền của bà M thì bà T không cho chồng là ông Ngọc E biết, nhưng ông Ngọc E nói tiền bà T vay mượn thì ông Ngọc E không biết tới, nên bà T xác định đây là nợ do bà T vay của bà M, đồng ý trả cho bà M số tiền 30.000.000 đồng.

Bị đơn, ông Nguyễn Ngọc E đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ, nhưng vẫn vắng mặt tại phiên hòa giải và tại phiên tòa, nhưng có lời khai:

Ông Ngọc E trình bày giữa ông và bà T quen biết nhau là do mai mối, sau đó cả hai quyết định tiến tới hôn nhân, được gia đình tổ chức lễ cưới vào tháng 3 năm 1993 và chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp vào ngày 12/5/2004. Vợ chồng chung sống không hạnh phúc, do tính

tình không phù hợp, do bà T có tính hay nói nhiều, không ai nhường nhịn ai, thường xuyên cãi vã nên dần mất đi tình cảm vợ chồng. Khi không thể chung sống với nhau được nữa nên bà T có bỏ nhà đi từ tháng 4/2024 cho đến nay. Nay ông Ngọc E cũng không còn tình cảm với bà T, nên bà T xin ly hôn thì ông Ngọc E đồng ý.

- Về con chung: Có 01 con chung là anh Nguyễn Phước N, sinh năm 1994. Hiện con chung đã trưởng thành, tự lao động nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về tài sản chung: ông Ngọc E và bà T tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết

- Về nợ chung: Ông Ngọc E có biết được việc bà Trần Thị Tuyết M yêu cầu ông và bà T liên đới trả số tiền là 30.000.000 đồng nhưng ông Ngọc E trình bày việc vay mượn là giữa bà T và bà M, ông E không biết, bà T không sử dụng vào việc chi tiêu trong gia đình, do đó không đồng ý liên đới cùng bà T trả cho bà M số tiền là 30.000.000 đồng, do ông và bà T tiền ai nấy sử dụng, còn tiền để triều bị bệnh cho con chung là do ông Ngọc E đưa cho bà T, bà T mới đưa lại cho anh N, ngoài ra anh N có gia đình và sống riêng với ông và bà T.

Theo biên bản lấy lời khai và tại phiên toà người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Tuyết M trình bày:

Bà Trần Thị Tuyết M trình bày có cho bà Trần Thị T vay tổng số tiền là 30.000.000 đồng, khi vay thì bà T trình mục đích vay để trị bệnh cho con là anh Nguyễn Phước N và chi tiêu trong gia đình, bà T có mượn làm nhiều lần, mỗi lần từ 2.000.000 đồngđến 10.000.000 đồng. Hai bên không có có thoả thuận lãi suất, nhưng bà T có đóng hụi dùm cho bà M được 5.000.000 đồng, cả hai thống nhất xem đây là tiền lãi suất. Do bà T vay mục đích để cho con điều trị bệnh và chi tiêu trong gia đình nên bà M xác định đây là nợ chung trong thời kỳ hôn nhân của bà T và ông Ngọc E.

Nay bà Trần Thị Tuyết M yêu cầu bà Trần Thị T và ông Nguyễn Ngọc E liên đới trả lại số tiền vốn vay là 30.000.000 (Ba mươi triệu đồng). Không yêu cầu tính lãi.

Tại phiên tòa Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu ý kiến:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: thẩm phán đã thực hiện đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định đúng quan hệ pháp luật và tư cách của người tham gia tố tụng, thu thập đầy đủ chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ án. Tuy nhiên về thời gian nhận và xử lý đơn kiện chưa đảm bảo theo quy định.

- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và thư ký: Tại phiên toà Hội đồng xét xử và thư ký đã thực hiện đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đúng các quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại Điều 71,73 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Riêng bị đơn không chấp hành theo giấy triệu tập hợp lệ của Tòa án là thực hiện chưa đúng theo quy định của pháp luật.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu của bà T được ly hôn với ông Ngọc E. Về con chung: Có 01 con chung là Nguyễn Phước N, sinh năm 1994. Hiện con chung đã trưởng thành, tự lao động nuôi sống bản thân nên, không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 463, 466 Bộ luật dân sự, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Tuyết M. Buộc bà Trần Thị T trả cho bà Trần Thị Tuyết M số tiền 30.000.000 (Ba mươi ba triệu đồng). Không yêu cầu tính lãi.

Về tài sản chung: Bà T và ông Ngọc E tự thoả thuận, không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

Bà T yêu cầu ly hôn với ông Ngọc E là tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn được qui định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bà T cư trú tại xã A, huyện C nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Ông Nguyễn Ngọc E đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng tuy nhiên vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt ông Ngọc E.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Qua tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bà bà Trần Thị T và ông Nguyễn Ngọc E, Hội đồng xét xử xác định: bà T và ông Ngọc E quen biết do mai mối, cả hai quyết định tiến tới hôn nhân, được gia đình tổ

chức lễ cưới vào tháng 3 năm 1993 và chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp vào ngày 12/5/2004. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng do ông Ngọc E có tính gia trưởng, thường xuyên nhậu nhẹt, về chửi mắng bà T, nên cuộc sống hôn nhân dần mất đi hạnh phúc, ông Ngọc E thì trình bày do bà T có tính hay nói nhiều, không ai nhường nhịn ai, thường xuyên cãi vã nên dần mất đi tình cảm vợ chồng. Khi không thể chung sống với nhau được nữa nên bà T và ông Ngọc E ly thân từ tháng 4/2024 cho đến nay.

Xét thấy mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, hạnh phúc, để đạt được mục đích đó vợ chồng chung sống với nhau phải có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy với nhau, nhưng trong thời gian chung sống, bà T và ông E có nhiều mâu thuẩn, thường xuyên cải vã, dẫn đến tình cảm vợ chồng phai nhạt, bà T và ông Ngọc E không còn tình cảm dành cho nhau nên cả hai sống ly thân từ năm tháng 4/2024 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân cũng không ai cố gắng để hàn gắn tình cảm, điều đó chứng tỏ rằng quan hệ hôn nhân giữa ông bà có mâu thuẩn thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Ông Ngọc E mặc dù vắng mặt tại phiên toà, nhưng có lời khai cũng đồng ý ly hôn với bà T.

Tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về ly hôn theo yêu cầu của một bên như sau:

“1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Từ phân tích trên xét yêu cầu của bà T là có sơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà T được ly hôn với ông Ngọc E.

[2.2] Về con chung: Có 01 con chung là Nguyễn Phước N, sinh năm 1994. Hiện con chung đã trưởng thành, tự lao động nuôi sống bản thân nên không ai yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung: các bên tự thỏa thuận, không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

[2.4] Về nợ chung: Bà Trần Thị Tuyết M yêu cầu bà Trần Thị T và ông Nguyễn Ngọc E liên đới trả lại số tiền vốn vay là 30.000.000 đồng. Không yêu cầu

tính lãi. Hội đồng xét xử xét thấy, mặc dù bà M cho rằng việc vay tiền mục đích để điều trị bệnh cho con chung là anh N và chi tiêu trong gia đình, nhưng đó chỉ là lời trình bày của bà T khi đến vay tiền của bà M, bà M cũng không cung cấp tài liệu chứng cứ gì chứng minh việc bà T vay tiền để sử dụng chung trong gia đình. Mặt khác, từ năm 2009 bà T và ông N đã sống ly thân, mặc dù ở chung nhà, nhưng sinh hoạt riêng, tiền ai nấy sử dụng, bà T, ông N tự làm thuê làm mướn để tự nuôi bản thân của mỗi người, và tại thời điểm vay tiền thì anh N đã trưởng thành có vợ, ra ở riêng, tự lao động, nuôi sống bản thân được, ông Ngọc E và anh N cũng không biết được việc bà T vay tiền của bà M sử dụng vào mục đích gì. Bà T cũng đồng ý trả số tiền 30.000.000 đồng cho bà M. Do đó, đây là phần nợ riêng của bà T, nên Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận một phần yêu cầu của bà M, buộc bà Trần Thị T trả cho bà M số tiền 30.000.000 đồng.

[3] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/TBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc hội, bà Trần Thị T phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình, án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 463, 466 Bộ luật dân sự 2015;

- Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/TBTVQH14 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc hội ban hành ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Trần Thị T

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Trần Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc E.

2. Về con chung: Có 01 con chung là anh Nguyễn Phước N, sinh năm 1994. Hiện anh N đã trưởng thành, tự lao động nuôi sống bản thân, không ai yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

3. Về tài sản chung: bà T và ông Ngọc E tự thoả thuận, không ai yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

4. Về nợ chung: Chấp nhận một phần yêu cầu của bà Trần Thị Tuyết M. Buộc bà Trần Thị T trả cho bà Trần Thị Tuyết M số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng). Không yêu cầu tính lãi.

5. Về án phí: bà Trần Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và 1.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng bà T đã nộp ngày 14/10/2024 theo biên lai số 00 13590 tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành được chuyển thành án phí hôn nhân gia đình bà T phải nộp. Bà Trần Thị T phải nộp tiếp 1.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành.

6. Nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKS nhân dân huyện Châu Thành;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Châu Thành;
  • - UBND xã An Hiệp;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Phan Lâm Hoàng Huynh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2025/HNGĐ-ST ngày 10/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp ly hôn, nợ chung

  • Số bản án: 28/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nợ chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger