|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 28/2025/HNGĐ - ST Ngày: 09-6-2025 V/v: “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC - TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ninh Khắc Phong
Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Huế
Bà Nguyễn Hà Thanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Thanh - Là thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Vương Khả Nhật Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 29/2025/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 01 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Vũ Mộng T, sinh năm 1991; HKTT: Thôn A, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú: Số A P, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (Có mặt).
- Bị đơn: Anh Triệu Văn H, sinh năm 1986; HKTT và cư trú: Thôn A, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 26/12/2024 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Vũ Mộng T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Triệu Văn H đăng ký kết hôn ngày 25/11/2013 tại UBND xã Đ, thành phố B, việc kết hôn là tự nguyện, có tổ chức lễ cưới. Sau khi kết hôn thì vợ chồng chung sống ngay sát nhà bố mẹ đẻ của chị ở phường L, thành phố B. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, căng thẳng. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do tính tình ngày càng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong nhiều vấn đề của cuộc sống. Ngoài ra, một phần mâu thuẫn cũng đến từ vấn đề kinh tế, vợ chồng làm không ra tiền, công việc không ổn định dẫn đến cuộc sống gặp nhiều khó khăn nên vợ chồng xích mích, cãi vã. Mặc dù, vợ chồng đã cố gắng qua cho nhau nhưng mâu thuẫn không giải quyết được mà ngày càng trầm trọng thêm. Từ tháng 12/2024 vợ chồng đã ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Chị và các con sống tại nhà bố mẹ đẻ chị tại số A P, phường L, thành phố B, còn anh H về sống tại thôn A, xã Đ, thành phố B. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Triệu Văn H.
Về con chung: Vợ chồng chị có 02 người con chung là cháu Triệu Yến N, sinh ngày: 04/4/2015 và cháu Triệu Anh T1, sinh ngày: 15/11/2016, hiện đang do chị trực tiếp nuôi dưỡng. Nay, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cả 02 con cho đến khi đủ 18 tuổi, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Vợ chồng chị không có nợ chung.
Tại bản tự khai ngày 14/4/2025 và trong quá trình tố tụng, bị đơn anh Triệu Văn H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị T đăng ký kết hôn vào ngày 25/11/2013 tại UBND xã Đ, thành phố B, việc kết hôn là, có tổ chức lễ cưới. Trong quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được khoảng 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, không tôn trọng ý kiến của nhau và vì vấn đề kinh tế gia đình, tiền bạc không rõ ràng. Vì vậy, vợ chồng đã ly thân từ ngày 12/12/2024 cho đến nay. Nay anh cũng đồng ý ly hôn như yêu cầu của chị T.
Về con chung: Vợ chồng anh có 02 người con chung là cháu Triệu Yến N, sinh ngày: 04/4/2015 và cháu Triệu Anh T1, sinh ngày: 15/11/2016, hiện đang do chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Nay về con chung thì anh muốn được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Triệu Yến N cho đến khi đủ 18 tuổi, giao cháu Triệu Anh T1 cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con anh không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung: Anh cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung.
Về nợ chung: Vợ chồng không có nợ chung.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng các đương sự không thống nhất được với nhau về việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn chị Vũ Mộng T và bị đơn anh Triệu Văn H vẫn giữ nguyên yêu cầu, ý kiến của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn, bị đơn từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về hôn nhân: Cho chị Vũ Mộng T được ly hôn với anh Triệu Văn H.
Về con chung: Giao cháu Triệu Yến N và cháu Triệu Anh T1 cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con do chị T không yêu cầu nên không đề cập đến.
Về tài sản chung: Các bên không yêu cầu giải quyết nên không đề cập đến.
Về nợ chung: Các bên không có nợ chung nên không xem xét đến.
Về án phí: Buộc nguyên đơn chị T phải chịu 300.000đ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn chị Vũ Mộng T có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc giải quyết được ly hôn với anh Triệu Văn H. Vì vậy, Tòa án xác định đây là tranh chấp về “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Triệu Văn H có địa chỉ cư trú tại thôn A, xã Đ, thành phố B. Vì vậy, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc theo quy định tại khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung tranh chấp:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Mộng T và anh Triệu Văn H đã được UBND xã Đ, thành phố B cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 81/2013 ngày 25/11/2013, việc kết hôn là tự nguyện, thời điểm đăng ký cả hai đều đủ điều kiện kết hôn. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh H là hợp pháp.
Theo chị T, quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, căng thẳng. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do tính tình ngày càng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong nhiều vấn đề của cuộc sống. Ngoài ra, một phần mâu thuẫn cũng đến từ vấn đề kinh tế, vợ chồng làm không ra tiền, công việc không ổn định dẫn đến cuộc sống gặp nhiều khó khăn nên vợ chồng xích mích, cãi vã.
Còn theo anh H, vợ chồng hạnh phúc được khoảng 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, không tôn trọng ý kiến của nhau và vì vấn đề kinh tế gia đình, tiền bạc không rõ ràng.
Tuy nhiên, cả chị T và anh H đều xác nhận từ tháng 12/2024 đến nay vợ chồng đã sống ly thân, mỗi người sống một nơi, không còn quan tâm đến nhau.
Như vậy, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh H là có xảy ra trên thực tế và đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Mặt khác, anh H cũng đồng ý ly hôn như yêu cầu của chị T. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T, cho chị T được ly hôn với anh H là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2.2] Về con chung: Chị T và anh H có 02 người con chung là cháu Triệu Yến N, sinh ngày: 04/4/2015 và cháu Triệu Anh T1, sinh ngày: 15/11/2016, hiện đang do chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Chị T yêu cầu được tiệp tục nuôi dưỡng cả 02 cháu đến khi trưởng thành; còn anh H thì yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Triệu Yến N, giao cháu Triệu Anh T1 cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng.
Xét thấy việc giao con cho ai nuôi dưỡng phải xem xét đến sự đảm bảo phát triển tốt về mọi mặt của con. Hiện nay, cả chị T và anh H đều có khả năng lao động, có công việc tạo ra thu nhập; chị T làm công nhân thu nhập mỗi tháng khoảng 7.000.000đ đến 8.000.000đ. Còn anh H làm nghề trang trí nội thất, đi làm theo các công trình, hiện đang có số dư tài khoản tính đến ngày 08/6/2025 là 1.382.777.552đ. Vì vậy, chị T và anh H đều có khả năng nuôi con.
Cả chị T và anh H đều khẳng định cháu Yến N đang học lớp 4, còn cháu Anh T1 đang học lớp 3 của Trường tiểu học T2, phường L, thành phố B. Việc đưa đón các cháu học hành hàng ngày do chị T và mẹ đẻ chị T thực hiện.
Tòa án đã xác minh bà Nguyễn Thị Phùng M (là mẹ đẻ của chị T, mẹ vợ anh H) thì bà M cho biết: “...Vợ chồng chị T, anh H có 02 người con chung là cháu Triệu Yến N và cháu Triệu Anh T1 hiện đang do chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Cả 02 cháu đều đang học tập tại Trường tiểu học T2, phường L. Hàng ngày, tôi là người trực tiếp đưa đón các cháu đi học và chăm sóc cho các cháu, còn chị T đi làm công nhân tối mới về lo cho con học hành, ngủ nghỉ. Đối với anh H thì từ khi sinh các con ra cho đến nay không lo chăm sóc con, chưa bao giờ đưa đón con học hành và từ cuối năm 2024 cho đến nay thì anh H không chung sống cùng mẹ con chị T nữa mà chuyển về xã Đ sinh sống nhưng anh cũng không quan tâm, thăm nom con. Trường hợp ly hôn thì theo tôi nên giao 02 con chung cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp vì từ trước đến nay anh H và bố mẹ anh (ông bà nội các cháu) đều không quan tâm, chăm lo cho các cháu. Mặt khác hiện nay các cháu đang học hành ổn định tại phường L rồi, tôi cam đoan sẽ phụ giúp chị T việc chăm sóc, đưa đón các cháu hàng ngày và sẽ tạo điều kiện chỗ ở ổn định cho chị T và các con”.
Ngoài ra, cháu Yến N và Anh Tú hiện nay đều trên 07 tuổi, có nguyện vọng được ở với mẹ (chị T).
Do đó, cần giao cháu Triệu Yến N và cháu Triệu Anh T1 cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi là đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho các cháu, đồng thời cũng phù hợp điều kiện thực tế của các bên và phù hợp với quy định của pháp luật.
Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chị T không yêu cầu giải quyết nên không xem xét đến.
[2.3] Về tài sản chung: Chị T và anh H đều không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, giải quyết.
[2.4] Về nợ chung: Chị T và anh H đều xác nhận vợ chồng không có nợ chung nên không xem xét, giải quyết.
[3] Về án phí: Buộc nguyên đơn chị Vũ Mộng T phải chịu 300.000đ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Bị đơn anh Triệu Văn H không phải chịu tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
[4] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, khoản 1 Điều 39, các Điều 146, 147, 205, 210, 220, 262 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Điều 18, 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn chị Vũ Mộng T đối với bị đơn anh Triệu Văn H.
Cho chị Vũ Mộng T được ly hôn với anh Triệu Văn H.
- Về con chung: Giao cháu Triệu Yến N, sinh ngày: 04/4/2015 và cháu Triệu Anh T1, sinh ngày: 15/11/2016 (hiện đang do chị T trực tiếp nuôi dưỡng) cho chị Vũ Mộng T tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi.
Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chị T không yêu cầu giải quyết nên không xem xét đến.
Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về án phí: Buộc chị Vũ Mộng T phải chịu 300.000đ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ đã nộp theo biên lai thu số 0009301 ngày 15/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc (chị T đã nộp đủ). Anh Triệu Văn H không phải chịu tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Ninh Khắc Phong |
Bản án số 28/2025/HNGĐ - ST ngày 09/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 28/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Vũ Mộng T ly hôn với anh Triệu Văn H
