Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2025/HNGĐ - ST

Ngày 06 - 6 - 2025

V/v tranh chấp Hôn nhân và Gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Hoa.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Huy Trụ;

2. Ông Nguyễn Ngọc Chín;

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thế Vinh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Đặng Trần Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 96/2025/TLST- HNGĐ ngày 10/4/2025 về việc “Tranh chấp Hôn nhân gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12/5/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 30/2025/QÐST-HNGĐ ngày 26/5/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị H, sinh năm 1983;

- Bị đơn: Anh Đỗ Khắc L, sinh năm 1983;

Cùng nơi cư trú: Tổ A, khu C, phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ;

(Chị H vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Anh L vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Lê Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đỗ Khắc L tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 19/7/2007 tại UBND phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, lối sống, thường xuyên xảy ra cãi chửi nhau. Vợ chồng đã ly thân, không ai quan tâm đến ai. Nay chị H xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh L nữa, nên đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì giải quyết cho chị được ly hôn, để sớm ổn định cuộc sống.

- Về con chung: Vợ chồng anh chị có 02 con chung là Đỗ Lê M, sinh ngày 30/01/2008 và Đỗ Thanh L1, sinh ngày 16/4/2012. Ly hôn, chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung trên và không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung; Nghĩa vụ chung về tài sản; Công sức: Chị H không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh Đỗ Khắc L lên Tòa án để có quan điểm nhưng anh L vắng mặt nhiều lần không có lý do. Tuy nhiên, tại biên bản sự việc ngày 24/4/2025, anh L đã trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Lê Thị H đăng ký kết hôn ngày 19/7/2007 tại UBND phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn từ những việc nhỏ nhặt trong gia đình, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, đôi khi xảy ra cãi chửi nhau. Mâu thuẫn vợ chồng hai bên gia đình không biết, do anh chị giấu. Nay chị H xin ly hôn anh, anh không đồng ý, đề nghị Tòa án cho anh thêm thời gian để vợ chồng đoàn tụ.

- Về con chung: Vợ chồng anh chị có 02 con chung. Đặt vấn vấn đề vợ chồng ly hôn, anh đề nghị Tòa án giao 02 con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc để chị em được ở với nhau và anh không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung; Nghĩa vụ chung về tài sản; Công sức: Anh L không đề nghị Tòa án giải quyết để vợ chồng tự thỏa thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký được thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn vắng mặt không có lý do là chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

Quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị H, chị H được ly hôn với anh Đỗ Khắc L.

- Về con chung: Giao cho chị Lê Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung là Đỗ Lê M, sinh ngày 30/01/2008 và Đỗ Thanh L1, sinh ngày 16/4/2012 kể từ khi vợ chồng ly hôn cho đến khi con chung thành niên.

Anh L không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

-Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Không đề nghị giải quyết.

-Về án phí: Chị H phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, đánh giá đầy đủ, khách quan tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết được xác định: Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn” giữa nguyên đơn chị Lê Thị H và bị đơn anh Đỗ Khắc L. Chị H, anh L có nơi cư trú tại thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ là đúng quy định pháp luật.

Về việc vắng mặt của các đương sự: Xét thấy, chị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và anh L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa án, do vậy anh L không có bản tự khai. Tòa án không tiến hành phiên họp hòa giải được, nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải, quy định Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc Tòa án xét xử vắng mặt chị H, anh L là hoàn toàn phù hợp với khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị H và anh Đỗ Khắc L kết hôn ngày 19/7/2007, tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Vì vậy, đây là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống, chị H và anh L có nhiều mâu thuẫn. Kết quả xác minh tại khu dân cư thể hiện chị H và anh L thường xuyên cãi nhau. Mâu thuẫn vợ chồng kéo dài từ nhiều năm nay vì đây là lần thứ 3 chị H làm đơn ly hôn tại Tòa án; hai lần trước chị đã rút đơn về để cho anh L có cơ hội hàn gắn, nhưng không có kết quả. Anh L xin đoàn tụ xong anh không có biện pháp gì để cải thiện mâu thuẫn vợ chồng. Vì vậy, cho chị H và anh L ly hôn là phù hợp thực tế và phù hợp quy định pháp luật.

[3].Về con chung: Chị H, anh L đều có nguyện vọng giao con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Các con chung cũng có nguyện vọng được ở với mẹ sau khi bố mẹ ly hôn. Để đảm bảo sự ổn định và tránh ảnh hưởng tiêu cực đến tâm sinh lý của các con chung, cần giao 02 con chung là Đỗ Lê M, sinh ngày 30/01/2008 và Đỗ Thanh L1, sinh ngày 16/4/2012 cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh L không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng do chị H không có yêu cầu, là phù hợp với quy định của pháp luật.

[4].Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp: Anh L, chị H đều không đề nghị Tòa án giải quyết. Nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5].Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lê Thị H và anh Đỗ Khắc L ly hôn.

2.Về con chung: Giao cho chị Lê Thị H được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung là Đỗ Lê M, sinh ngày 30/01/2008 và Đỗ Thanh L1, sinh ngày 16/4/2012 kể từ khi ly hôn cho đến khi con chung thành niên. Anh Đỗ Khắc L không phải cấp dưỡng nuôi con chung vì chị H không yêu cầu.

Anh Đỗ Khắc L có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục các con chung không ai được cản trở.

3.Về tài sản chung; công nợ; công sức đóng góp: Không đề nghị giải quyết.

4.Về án phí: Chị Lê Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị H đã nộp đủ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003532 ngày 03/4/2025, tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết ./.

“Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự".

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TP Việt Trì;
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - CCTHADS TP Việt Trì;
  • - UBND phường Minh Phương;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Phương Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2025/HNGĐ - ST ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 28/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và Gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: H xin ly hôn L
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger