|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 28/2025/HNGĐ-ST Ngày: 05-6-2025 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hà Thị Nga
Ông Vũ Khắc Tân
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Cẩm Hương - Thư ký Tòa án nhân dân
quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 02/2025/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2025 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 426/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu H; nơi cư trú: Số A A, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Minh T; nơi cư trú: Số A T, phường N (nay là phường A), quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt và xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 25/11/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu H trình bày:
Bà và ông Nguyễn Minh T xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện, tự tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng vào ngày 11/01/2010, đến nay không có con chung. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do hai bên bất đồng nhau về quan điểm sống, lối sống, khác biệt nhau về tính cách, bản thân bà bận rộn công việc, lại phải chăm sóc mẹ ốm đau nên cũng thiếu trách nhiệm với ông T. Từ đó, vợ chồng không còn quan tâm, chia sẻ với nhau, thường xuyên xảy ra cãi vã dẫn đến tình cảm ngày càng lạnh nhạt, không khí gia đình trở nên căng thẳng. Hai bên gia đình đã động viên, khuyên giải và vợ chồng cũng đã cố gắng hàn gắn những rạn nứt nhưng không có kết quả, từ tháng 8/2024 đến nay vợ chồng sống ly thân mỗi người một nơi, không còn quan tâm đến nhau về mọi mặt. Nay bà xác định mâu thuẫn đã thực sự trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục quan hệ hôn nhân nên đề nghị Toà án giải quyết cho bà được ly hôn ông Nguyễn Minh T. Về con chung: Vợ chồng không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí: Bà H nhận nộp cả án phí ly hôn sơ thẩm để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Đối với bị đơn ông Nguyễn Minh T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập đến làm việc vào các ngày 14/3/2025, ngày 24/4/2025, Thông báo mở phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 06/5/2025, Thông báo kết quả phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 06/05/2025; Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo đúng quy định về thủ tục chung của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại buổi làm việc ngày 24/4/2025, ông T đề nghị Tòa án tiến hành ghi lại lời khai của mình và trình bày: Quá trình vợ chồng kết hôn nhưng chưa có con chung như bà H trình bày là đúng. Theo ông, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ năm 2021 do không cùng quan điểm sống, bà H không quan tâm nhiều đến ông và thiếu trách nhiệm với gia đình nhà chồng, vợ chồng đã nhiều lần nói chuyện với nhau nhưng không tìm được tiếng nói chung. Từ cuối năm 2024, bà H chuyển về nhà bố mẹ đẻ để ở và vợ chồng sống ly thân từ từ đó đến nay, không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay bà H xin ly hôn thì ông là đồng ý. Về con chung và tài sản chung, vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do sức khỏe của ông không được tốt nên ông xin vắng mặt tại các phiên họp, phiên tòa và đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt ông.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật tranh chấp; những người tham gia tố tụng được thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn chưa chấp hành đầy đủ quy định của Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn ông Nguyễn Minh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về việc giải quyết vụ án: Bà H và ông T xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng vào ngày 11/01/2010 và không có con chung. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và đã ly thân từ năm 2024 đến nay. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho bà H được ly hôn ông T; về con chung: Bà H và ông T không có con chung, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét; về tài sản chung: Hai bên không yêu cầu giải quyết nên không xem xét; về án phí: Bà H phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm để nộp vào ngân sách Nhà nước.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tố tụng:
[1] Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu H khởi kiện xin ly hôn ông Nguyễn Minh T là tranh chấp về ly hôn; bị đơn cư trú tại địa bàn quận L, thành phố Hải Phòng nên căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
[2] Bị đơn ông Nguyễn Minh T đã được triệu tập hợp lệ nhưng có quan điểm xin vắng mặt tại phiên tòa và đề nghị giải quyết vắng mặt nên theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự thì Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông T.
- Về nội dung:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu H và ông Nguyễn Minh T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Giấy chứng nhận kết hôn số 02, quyển số 01/2010 do Ủy ban nhân dân phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng cấp ngày 11/01/2010 nên theo quy định tại khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng nhau về quan điểm sống, lối sống, tính cách và đã sống ly thân mỗi người một nơi từ năm 2024. Nay bà H xin ly hôn thì ông T đồng ý. Tiến hành thu thập chứng cứ xác minh về thực trạng hôn nhân giữa bà H và ông T tại địa phương cho thấy, vợ chồng bà H và ông T sống ly thân mỗi ngời một nơi. Xét mâu thuẫn giữa bà H và ông T đã thực sự trầm trọng; cuộc sống chung không thể kéo dài; mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ vào Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xử cho bà Nguyễn Thị Thu H được ly hôn ông Nguyễn Minh T là phù hợp.
[4] Về con chung: Bà H và ông T không có con chung, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.
[5] Về tài sản chung: Bà H và ông T đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[6] Về án phí: Bà H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; khoản 4 Điều 207; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Q;
Xử:
- 1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu H được ly hôn ông Nguyễn Minh T.
- 2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thu H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm để nộp vào ngân sách Nhà nước. Số tiền này bà H đã nộp đủ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân theo Biên lai thu tiền số 0003559 ngày 10 tháng 01 năm 2025.
- 3. Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Thu H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; ông Nguyễn Minh T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thu Hương |
Bản án số 28/2025/HNGĐ-ST ngày 05/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn
- Số bản án: 28/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Thu Hương - Nguyễn Minh Toán
