|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 28/2025/HC-ST Ngày: 18/6/2025 V/v Khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Lý Thơ Hiền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Chùm và ông Nguyễn Ngọc Uyên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thái – Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sáu - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên và điểm cầu thành phần UBND thành phố T. TAND tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý 99/2024/TLST-HC ngày 25 tháng 11 năm 2024 về việc “Khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2025/QĐXXST-HC ngày 09/5/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 322/2025/QĐST-HC ngày 27/5/2025, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1962; địa chỉ: 6 N, phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên; có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện có: Bà Trần Thị Như T – Luật sư Văn phòng L thuộc Đoàn luật sư tỉnh P; Địa chỉ liên hệ: C N, phường E, thành phố T, Phú Yên; có mặt.
- Người bị kiện:
- + Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Phú Yên; vắng mặt, có yêu cầu xét xử vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho UBND thành phố T có: Bà Nguyễn Thị Xuân Đ – Phó Trưởng phòng Nông nghiệp và Môi trường thành phố T; có mặt.
- + Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T; vắng mặt, có yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Ủy ban nhân dân phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên; người đại diện theo ủy quyền có: Ông Trần Huỳnh Minh N, công chức địa chính; có mặt.
- + Ông Nguyễn T1, sinh năm 1964; địa chỉ: F L, phường C, thành phố T, tỉnh Phú Yên; vắng mặt, có yêu cầu xét xử vắng mặt.
- + Ông Nguyễn M, sinh năm 1969; địa chỉ: 6 N, phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên; vắng mặt, có yêu cầu xét xử vắng mặt.
- + Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1967; địa chỉ: Thôn N, xã H, thành phố T, tỉnh Phú Yên; vắng mặt, có yêu cầu xét xử vắng mặt.
- + Nguyễn Thị C, sinh năm 1975; địa chỉ: Khu phố C, phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên; vắng mặt, có yêu cầu xét xử vắng mặt.
- + Vợ chồng ông Nguyễn Trọng N1, sinh năm 1984, bà Ngô Lệ H, sinh năm 1984; địa chỉ: 6 N, phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên; có mặt.
- + Ông Huỳnh Đăng Q – sinh năm 1970; địa chỉ: Khu phố C, phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên; vắng mặt, có yêu cầu xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện là ông Nguyễn Văn K và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện thống nhất trình bày:
Tháng 02/2024, ông Nguyễn Văn K có làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 01, tờ bản đồ C4-IV-B-d, diện tích 159,9m² và thửa đất số 270, tờ bản đồ C4-IV-B-d, diện tích 46,3m², đều tọa lạc tại 6 N, phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên. 02 thửa đất này không nằm liền kề nhau, có nguồn gốc do cha mẹ ông K là vợ chồng ông bà Nguyễn M1 (chết 2008), Bùi Thị T3 (chết năm 1999) đều không để lại di chúc; để lại theo 02 văn bản khai nhận di sản lập ngày 09/01/2024 tại Văn phòng C1.
Ngày 31/5/2024, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T ban hành văn bản số 1274/CNVPĐKĐĐ và văn bản số 1275/CNVPĐKĐĐ về việc chuyển trả bổ sung hồ sơ đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn K đối với 02 thửa đất nêu trên.
Do không đồng ý đối với 02 văn bản trên, ngày 25/6/2024 ông K đã gửi đơn khiếu nại về việc chậm giải quyết hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 12/7/2024, UBND thành phố T có công văn số 5832/UBND về việc giải quyết đơn của ông Nguyễn Văn K với nội dung “... Giao Chi nhánh Văn phòng Đ kiểm tra, giải quyết, trả lời cho công dân biết và báo cáo kết quả cho UBND thành phố thời gian hoàn thành trước ngày 26/7/2024...”. Tuy nhiên, đến nay ông K vẫn chưa nhận được bất kỳ văn bản trả lời nào của cơ quan này.
Xét thấy, hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông K đã nộp và bổ sung nhiều lần nhưng đến nay vẫn chưa nhận được phản hồi hay kết quả giải quyết từ các cơ quan có liên quan. Việc chậm trễ này làm thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của ông K. Do đó, ông K nộp đơn khởi kiện tại TAND tỉnh Phú Yên yêu cầu:
- + Hủy văn bản số 1274/CNVPĐKĐĐ ngày 31/5/2024 và văn bản số 1275/CNVPĐKĐĐ ngày 31/5/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố T;
- + Buộc Ủy ban nhân dân thành phố T và Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh P (Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố T) tiến hành các thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số 1, tờ bản đồ C4-IV-B-d, diện tích 159,9m² và thửa đất số 270, tờ bản đồ C4-IV-B-d, diện tích 46,3m²; tọa lạc tại địa chỉ 6 N, phường B, thành phố T cho ông Nguyễn Văn K theo đúng quy định của pháp luật.
* Người bị kiện UBND thành phố T trình bày: Qua xem xét yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn K, UBND thành phố T đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên giải quyết theo quy định pháp luật.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố T trình bày: (Không có văn bản trình bày ý kiến).
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là UBND phường B, thành phố T trình bày:
- - Đối với thửa đất số 01, tờ C4-IV-B-d, diện tích 159,9m² theo mảnh trích đo đo đạc chỉnh lý số 75-2023 do CNVPĐKĐĐ ký ngày 30/11/2023 theo hồ sơ quản lý tại phường:
- + Bản đồ năm 1996: Thể hiện thửa đất số 11, tờ bản đồ C4,IV-B-d, diện tích 281,9m² chủ sử dụng đất là ông Nguyễn Văn K;
- + Bản đồ 2004 thể hiện thửa đất 11, tờ C4-IV-B-d, diện tích 281,0m² chủ sử dụng đất là ông Nguyễn Văn K;
- + Bản đồ năm 2019 thể hiện thửa đất số 187, tờ bản đồ số 06, diện tích 182,6m² chủ sử dụng đất ông Nguyễn Văn K;
- - Đối với thửa đất 270, tờ C4-IV-B-d, diện tích 46,3m² theo mảnh trích đo đo đạc chỉnh lý số 03-2024 do CNVPĐKĐĐ ký ngày 19/01/2024 theo hồ sơ quản lý tại phường:
- + Bản đồ năm 1996 thể hiện thửa số 20, tờ C4-IV-B-d, diện tích 181,4m² chủ sử dụng đất là ông Nguyễn M1;
- + Bản đồ 2004 thể hiện thửa đất số 20, tờ C4-IV-B-d, diện tích 180,9m² chủ sử dụng đất là ông Nguyễn M1;
- + Bản đồ 2019 tách chia thành 02 thửa thể hiện người đứng tên chủ sử dụng là ông Huỳnh Đăng Q, cụ thể: Thửa 11, tờ bản đồ số 13, diện tích 45,4m² và thửa 06, tờ bản đồ số 13, diện tích 139,9m².
- - Về quy hoạch: Cả 02 thửa đất trên đều phù hợp quy hoạch sử dụng đất đã được cơ quan cơ thẩm quyền phê duyệt theo Quyết định số 84/QĐ-UBND ngày 23/01/2025 của UBND tỉnh P.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Huỳnh Văn Q1 trình bày:
Tôi có nghe thông báo từ công văn số 1275/CNVPĐKĐĐ của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T ngày 31/5/2024 về việc chuyển trả hồ sơ, đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 270, tờ bản đồ số C4-IV-B-d, diện tích 46,3m² của ông Nguyễn Văn K tọa lạc tại 6 N, phường B, thành phố T “Qua đối chiếu hồ sơ đo đạc năm 1996 thì vị trí thửa đất đề nghị cấp giấy thuộc thửa đất số 20, tờ bản đồ số C4-IV-B-d, diện tích 181,4m² do ông Nguyễn M1 đứng tên và kê khai sử dụng đất. Theo bản đồ đo đạc năm 2019 thì thửa đất nói trên thuộc thửa đất số 11, tờ bản đồ số 13, diện tích 45,4m² do ông Huỳnh Văn Q1 đứng tên kê khai chủ sử dụng đất”.
Việc cơ quan thẩm quyền cho rằng tôi là người đứng tên kê khai chủ sử dụng đất đối với thửa đất số 11, tờ bản đồ số 13 (đo đạc năm 2019), diện tích 45,4m² tọa lạc tại 6 N, phường B, thành phố T, nay là thửa đất số 270, tờ bản đồ số C4-IV-B-d, diện tích 46,3m², là không chính xác, không đúng với thực tế chủ quyền sử dụng đất. Tôi chỉ là hàng xóm có đất liền kề và hoàn toàn không liên quan, không tranh chấp đối với thửa đất 270, tờ bản đồ số C4-IV-B-d, diện tích 46,3m² tọa lạc tại 6 N, phường B, thành phố T mà ông Nguyễn Văn K đang làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đây hoàn toàn là đất thuộc sở hữu hợp pháp của ông Nguyễn Văn K. Gia đình ông K trực tiếp quản lý, sử dụng đất từ mấy chục năm nay, không ai tranh chấp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là các ông bà Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị T2,Nguyễn M, Nguyễn T1, Nguyễn Trọng N1,Ngô Lệ H trình bày: Thống nhất theo yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn K.
Tòa án đã tiến hành tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tiến hành đối thoại để các đương sự thống nhất với nhau về việc giải quyết vụ án, nhưng các bên đương sự vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, người bị kiện vẫn giữ nguyên quyết định hành chính bị kiện. Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án hành chính để Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
Tại phiên tòa:
Các bên đương sự vẫn giữ nguyên quan điểm trình bày.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của người khởi kiện.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho UBND thành phố T và UBND phường B, thành phố T đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.
Đại diện viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng, thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đúng quy định pháp luật; Về nội dung: Đề nghị HĐXX căn cứ điểm b, khoản 2, Điều 193 Luật Tố tụng hành chính chấp nhận toàn bộ yêu cầu của người khởi kiện của ông Nguyễn Văn K; giải quyết án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa lần thứ hai, người bị kiện, một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt và có đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 158 Luật Tố tụng hành chính xét xử vắng mặt đương sự.
[2] Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn K xác định đối tượng khởi kiện là hành vi hành chính không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND thành phố T và hành vi hành chính trả lại hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T theo văn bản số 1274/CNVPĐKĐĐ ngày 31/5/2024 và văn bản số 1275/CNVPĐKĐĐ ngày 31/5/2024.
Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên thụ lý giải quyết vụ án hành chính là đúng thẩm quyền và trong thời hiệu khởi kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32 và điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính.
[3] Xét nguồn gốc đất:
[3.1] Căn cứ Báo cáo số 596/BC-UBND ngày 16/4/2025 của UBND phường B và biên bản xác minh ngày 05/6/2024 tại Phòng Nông nghiệp và Môi trường thành phố T thể hiện:
- - Thửa đất 01, tờ C4-IV-B-d, diện tích 159,9m² theo mảnh trích đo chỉnh lý số 75-2023 do CNVPĐKĐĐ ký ngày 30/11/2023 (viết tắt thửa 01): Theo hồ sơ quản lý của UBND phường B tại các tờ bản đồ đo đạc năm 1996, 2004 và 2019 đều thể hiện chủ sử dụng đất là ông Nguyễn Văn K.
- - Thửa đất 270, tờ C2, diện tích 46,3m² theo mảnh trích đo chỉnh lý số 03-2024 do CNVPĐKĐĐ ký ngày 19/01/2024 (viết tắt thửa 270): Theo hồ sơ quản lý tại UBND phường B tại các tờ bản đồ năm 1996 và bản đồ 2004 thể hiện chủ sử dụng đất là Nguyễn M1 (cha của ông Nguyễn Văn K). Năm 2019 đo đạc lại là thửa đất số 11, tờ bản đồ số 13, diện tích 45,4m² thể hiện người đứng tên chủ sử dụng là ông Huỳnh Đăng Q. Tuy nhiên, căn cứ vào lời trình bày của ông Nguyễn Văn K và ông Huỳnh Đăng Q đều xác định người quản lý, sử dụng là ông Nguyễn Văn K và giữa ông K và ông Q không có tranh chấp thửa đất này. Do đó, việc quản lý hồ sơ địa chính của UBND phường 2 ghi nhận thửa đất này đứng tên ông Q là không chính xác, không đúng với thực tế chủ quyền sử đất.
[3.2] Căn cứ 02 văn bản khai nhận di sản lập ngày 09/01/2024 tại Văn phòng C1 thì các đồng thừa kế của ông Nguyễn M1, bà Bùi Thị T3 (gồm ông Nguyễn Văn K, ông Nguyễn T1, ông Nguyễn M, bà Nguyễn Thị T2, bà Nguyễn Thị C) đều thống nhất để lại cho ông Nguyễn Văn K quyền sử dụng đất tại 02 thửa đất nêu trên.
Như vậy, nguồn gốc thửa 01 và thửa 270 là của vợ chồng ông Nguyễn M1, bà Bùi Thị T3 để lại và đã chuyển giao hợp pháp cho ông Nguyễn Văn K sử dụng ổn định từ trước năm 1996 đến nay và không có ai tranh chấp. Theo báo cáo số 596/BC-UBND ngày 16/4/2025 của UBND phường B và tại biên bản xác minh ngày 05/6/2025 đều xác nhận phù với quy hoạch sử dụng đất đã được cơ quan cơ thẩm quyền phê duyệt theo Quyết định số 84/QĐ-UBND ngày 23/01/2025 của UBND tỉnh P.
[4] Hồ sơ yêu cầu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn K đối với các thửa 01, và thửa 270 là thuộc trường hợp xem xét công nhận quyền sử dụng đất đã sử dụng ổn định, lâu dài, không tranh chấp và phù hợp với quy hoạch sử dụng đất hiện hành theo Điều 138 Luật Đất đai 2024 (tương ứng Điều 101 Luật Đất đai 2013).
Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T căn cứ các công văn số 129/UBND và 130/UBND ngày 30/5/2024 của UBND phường B xác định ông Khi chưa chứng minh nguồn gốc đất cũng như sự thay đổi về hiện trạng sử dụng đất (diện tích) đối với các thửa 01 và 270 để ban hành các văn bản số 1274/CNVPĐKĐĐ và văn bản số 1275/CNVPĐKĐĐ cùng ngày 31/5/2024 để chuyển trả hồ đăng ký cấp giấy chứng nhận của ông K là không đúng quy định pháp luật. Theo quy định tại Điều 70 Nghị định 43/2014/NĐ-Cp ngày 15/5/2014 về hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai thì trách nhiệm xác định nguồn gốc đất là của UBND phường B; ông K đã có đơn trình bày về nguồn gốc đất nên UBND phường B phải có trách nhiệm xác minh về nguồn gốc đất. UBND phường B không thực hiện việc xác minh nguồn gốc đất mà ban hành các văn bản số 129/UBND và 130/UBND để không thực hiện các thủ tục niêm yết công khai hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông K là không đúng quy định.
[5] Từ các phân tích tại các mục [3][4] Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn K, hủy các văn bản số 1274/CNVPĐKĐĐ và văn bản số 1275/CNVPĐKĐĐ cùng ngày 31/5/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T; buộc UBND thành phố T và Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố T phải tiến hành các trình tự, thủ tục giải quyết hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 11 tờ bản đồ số 13 (thửa 270) và thửa đất số 187, tờ bản đồ số 06 (thửa 01), tọa lạc tại địa chỉ 6 N, phường B, thành phố T cho ông Nguyễn Văn K theo đúng quy định của pháp luật
[6] Về án phí và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Do chấp nhận yêu cầu của người khởi kiện nên người bị kiện phải chịu án phí hành chính sơ thẩm và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ theo quy định.
Hoàn trả cho ông Nguyễn Văn K số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Áp dụng điều 30, 32, 116, 158, điểm b khoản 2 Điều 193; Điều 348 và 358 Luật Tố tụng hành chính; Luật Đất đai 2013; Luật Đất đai 2024; Khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn K:
- + Tuyên bố hủy văn bản số 1274/CNVPĐKĐĐ ngày 31/5/2024 và văn bản số 1275/CNVPĐKĐĐ ngày 31/5/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố T;
- + Buộc Ủy ban nhân dân thành phố T và Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố T tiến hành các trình tự, thủ tục giải quyết hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 11 tờ bản đồ số 13 (thửa 270) và thửa đất số 187, tờ bản đồ số 06 (thửa 01), tọa lạc tại địa chỉ 6 N, phường B, thành phố T cho ông Nguyễn Văn K theo đúng quy định của pháp luật.
[2] Về án phí: Người bị kiện UBND thành phố T, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T, tỉnh Phú phải liên đới nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hành chính sơ thẩm.
Hoàn trả cho ông Nguyễn Văn K 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp có tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0002845 ngày 25 tháng 11 năm 2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên.
[3] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Ủy ban nhân dân thành phố T và Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố T phải liên đới chịu 5.624.000₫ (năm triệu sáu trăm hai mươi bốn nghìn đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ; ông Nguyễn Văn K đã nộp tạm ứng số tiền này nên Ủy ban nhân dân thành phố T và Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố T có trách nhiệm liên đới hoàn trả cho ông Nguyễn Văn K số tiền 5.624.000đ (năm triệu sáu trăm hai mươi bốn nghìn đồng).
[4] Thời hạn, trình tự thủ tục thi hành và xử lý trách nhiệm với người không thi hành bản án, quyết định của Tòa án được thực hiện theo Nghị định 71/2016/NĐ-CP ngày 01/07/2016 của Chính phủ.
[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lý Thơ Hiền |
Bản án số 28/2025/HC-ST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Số bản án: 28/2025/HC-ST
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2025
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn K - Khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
