|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 28/2025/DS-ST
Ngày: 24-3-2025
V/v tranh chấp đòi lại tài sản.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Bà Nguyễn Thị Mi Mi.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Bà Trần Thị Kim Trang
- 2/ Bà Đào Thị Mộng Trinh
Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Kim Quy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
Ngày 24 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số 392/2024/TLST-DS ngày 13 tháng 11 năm 2024; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2025/QĐXXST–DS ngày 12 tháng 02 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2025/QÐST-DS ngày 04 tháng 03 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn:
- 1/ Ông Trần Văn H – Sinh năm 1968;
- 2/ Bà Nguyễn Thị H1 – Sinh năm 1969
Cùng địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận.
Bị đơn: Ông Lê Văn T – Sinh năm 1972.
Địa chỉ: Xóm C, thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận
Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 28/5/2024, bản tự khai và các biên bản khác nguyên đơn ông Trần Văn H, bà Nguyễn Thị H1 trình bày: Vợ chồng ông bà có mối quan hệ quen biết với ông Lê Văn T. Ngày 27/12/2020, vợ chồng ông, bà và ông T có lập Hợp đồng thỏa thuận sẽ ra sổ hồng bằng giấy tay. Theo như Hợp đồng thỏa thuận thì ông T cam kết làm thủ tục đăng ký giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất nông nghiệp là 32.986,4m² ra sổ đỏ đất cây lâu năm, đất của vợ chồng ông H, bà H1 ở B. Hai bên thỏa thuận sau khi ra được 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì sẽ đưa cho ông T 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng). Sau đó, ông T có nhận trước của vợ chồng ông bà nhiều lần với tổng số tiền 142.000.000 đồng. Mỗi lần nhận tiền ông T đều ký giấy tờ xác nhận đã nhận tiền. Ngoài ra, trong Hợp đồng thỏa thuận còn nêu rõ nếu như ông T bỏ cuộc không tiếp tục thực hiện hợp đồng thì ông T phải bồi thường theo quy định.
Tuy nhiên, từ sau khi nhận tiền cho đến nay thì ông T đã không thực hiện như những gì đã thỏa thuận, kéo dài từ năm 2021 cho đến nay. Vợ chồng ông bà đã nhiều lần nhắc hẹn, gọi điện nhưng ông T cứ lẫn tránh, trả lời qua loa để không thực hiện việc trả tiền. Ông bà không yêu cầu ai khác trả tiền vì khi giao tiền và thỏa thuận với nhau chỉ biết có một mình ông Lê Văn T nên ông bà chỉ yêu cầu mình ông T trả số tiền mà vợ chồng ông bà đã giao cho ông T. Nay vợ chồng ông H, bà H1 có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Ông Lê Văn T phải trả cho vợ chồng ông bà số tiền đã nhận tổng cộng các lần là 142.000.000 đồng (một trăm bốn mươi hai triệu đồng) và không yêu cầu tính lãi suất.
Bị đơn ông Lê Văn T vắng mặt nên không có bản khai tại hồ sơ.
Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án như thông báo thụ lý vụ án, thông báo về việc mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Lê Văn T vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 203 và Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt không có lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp yêu cầu bị đơn trả số tiền đã giao cho bị đơn làm sổ. Đây là tranh chấp đòi lại tài sản (tiền). Bị đơn ông Lê Văn T có địa chỉ tại thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận được pháp luật quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét bị đơn Ông Lê Văn T đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định của pháp luật nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự
[2]Về nội dung: Căn cứ lời khai của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và tại phiên Tòa có căn cứ xác định: Ông Lê Văn T đã ký vào tờ Bảng hợp đồng thỏa thuận sẽ ra sổ hồng và các giấy nhận tiền với nội dung ngày 27/12/2020, vợ chồng ông H, bà H1 và ông T có lập Hợp đồng thỏa thuận sẽ ra sổ hồng bằng giấy tay, hợp đồng thỏa thuận ông T cam kết làm thủ tục đăng ký giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất nông nghiệp là 32.986,4m² ra sổ đỏ đất cây lâu năm. Hai bên thỏa thuận sau khi ra được 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì sẽ đưa cho ông T số tiền 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng). Sau đó, ông T có nhận trước của vợ chồng ông bà nhiều đợt cụ thể (ngày 22/02/2021: 10.000.000đồng; ngày 03/3/2021: 10.000.000đồng; ngày 08/3/2021: 25.000.000đồng; ngày 12/4/2021: 50.000.000đồng và 8.000.000đồng; ngày 02/5/2021: 19.000.000đồng; ngày 11/12/2021: 20.000.000đồng. Tổng cộng các lần với số tiền 142.000.000 đồng. Mỗi lần nhận tiền ông T đều ký giấy tờ xác nhận đã nhận tiền và nội dung nhận tiền trên giấy thì do chính ông H viết.
Về phía bị đơn không thực hiện theo thỏa thuận, trốn tránh không có ý kiến gì phản hồi, từ bỏ nghĩa vụ chứng minh của mình nên có căn cứ để xác định bị đơn đã vi phạm việc thỏa thuận giữa các bên.
Từ những nhận định trên, có cơ sở để Hội đồng xét xử xác định ông Lê Văn T đã nhận của ông H, bà H1 số tiền làm sổ tổng cộng là 142.000.000 đồng. Số tiền đưa cho ông T là tiền chung của vợ chồng ông H, bà H1. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn H, bà Nguyễn Thị H1. Buộc ông Lê Văn T phải trả lại số tiền đã nhận 142.000.000 đồng cho ông H, bà H1 là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp pháp luật.
[4] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn ông Trần Văn H, bà Nguyễn Thị H1 được Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ nên bị đơn ông Lê Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Ông Trần Văn H, bà Nguyễn Thị H1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 105, Điều 115, Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015; Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 145, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1/ Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn H, bà Nguyễn Thị H1, về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản”.
Buộc bị đơn ông Lê Văn T phải trả lại số tiền 142.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi hai triệu đồng) cho ông Trần Văn H và bà Nguyễn Thị H1
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
2/ Về án phí:
Ông Lê Văn T phải chịu 7.100.000₫ (Bảy triệu một trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Trần Văn H, bà Nguyễn Thị H1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho ông H, bà H1 số tiền tạm ứng án phí 3.550.000 đồng (ba triệu năm trăm năm mươi ngàn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0013878 ngày 11/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc.
3/ Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 24/3/2025). Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mi Mi |
Bản án số 28/2025/DS-ST ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp đòi lại tài sản
- Số bản án: 28/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đòi lại tài sản
