Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ NINH HÒA

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 28/2025/DS-ST

Ngày: 17-6-2025

V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Đạt

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Chung

Đỗ Thị Loan

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Thẩm là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Hiền – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 279/2024/TLST-DS ngày 18 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2025/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 48/2025/QĐST-DS ngày 30 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q (MB)

Trụ sở: A L, phường T, quận C, Tp ..

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lương Trung T – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Pháp nhân đại diện theo ủy quyền: Công ty TNHH Q1 và Khai thác tài sản – Ngân hàng TMCP Q

Trụ sở: 03 L, phường L, quận B, Tp ..

Đại diện theo pháp luật: Ông Hà Anh D – Chức vụ: Tổng giám đốc

Đại diện theo ủy quyền lại: Ông Mạc Đức T1 – Chức danh: Giám đốc chi nhánh Công ty M1.

Đại diện theo ủy quyền lại:

  1. Ông Nguyễn Việt T2 – Chức vụ: Trưởng phòng xử lý nợ.
  2. Ông Đặng Văn N – Chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ.
  3. Ông Trương Phương N1 – Chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ.
  4. Ông Lê Thanh T3 – Chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ.

Cùng địa chỉ liên hệ: Tầng C, A L, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng.

Địa chỉ liên hệ: Tầng F, số I L, phường L, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. (Ông N1 có mặt, ông T2, ông N, ông T3 đều vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Lê Huỳnh Hoài T4 – sinh năm 1992 (Vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn T, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Trương Phương N1 trình bày:

Ông Lê Huỳnh Hoài T4 và Ngân hàng TMCP Q - Chi nhánh K (Bên cho vay - M2) đã cũng ký kết (các) Hợp đồng tín dụng cùng (các) Khế ước nhận nợ cụ thể như sau:

- Hợp đồng tín dụng số 0001.22.801.19899306.TD ngày 20/12/2022 cùng khế ước nhận nợ số LD2235454900; mục đích vay là mua bất động sản; ngày nhận nợ 20/12/2022; thời hạn vay 240 tháng; số tiền vay là 845.000.000đ; lãi suất vay 13,1%/năm, lãi suất có điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần; lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn, lãi suất chậm trả là 10%/năm.

2. Tài sản bảo đảm:

Tài sản bảo đảm cho khoản vay là (các) tài sản sau đây: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1365, TBĐ số 24, diện tích: 201 m², địa chỉ: thị trấn L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền và hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CT 789952, số vào số cấp GCN: CS 12856 do Sở T5 cấp ngày 13/12/2019, xác nhận chuyển nhượng cho ông Lê Huỳnh Hoài T4 ngày 23/12/2022. Việc thế chấp đã được ông Lê Huỳnh Hoài T4 và M2 ký Hợp đồng thế chấp số 81437.22.801.19899306.BĐ ngày 28/12/2022. Hợp đồng thế chấp được công chứng tại Văn Phòng C và đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện B theo quy định.

3. Sự vi phạm nghĩa vụ thanh toán, dư nợ:

Sau khi vay vốn, ông T4 đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi theo như cam kết trong Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ nêu trên. Đến nay toàn bộ khoản vay đã quá hạn (kể từ ngày 25/4/2024) nhưng ông T4 vẫn không thực hiệc việc tất toán khoản vay mà cố tình trốn tránh trả nợ. Tạm tính đến ngày 17/6/2025, dư nợ của ông T4 là:

Nợ gốc: 788.579.664 đồng;

Lãi trong hạn: 108.672.960 đồng;

Lãi quá hạn: 4.756.875 đồng;

Tổng cộng: 902.009.499 đồng.

4. Nội dung yêu cầu tòa giải quyết:

Trên cơ sở những nội dung đã trình bày trên Ngân hàng TMCP Q kính đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa giải quyết những vấn đề sau đây đối với bị đơn:

4.1. Buộc bên vay là ông T4 thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP Q khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng cùng Khế ước nhận nợ đính kèm đã ký nêu trên giữa các bên với số tiền tạm tính đến hết ngày 17/6/2025 là 902.009.499 đồng. Trong đó: Nợ gốc là 788.579.664 đồng; nợ lãi trong hạn là 108.672.960 đồng; nợ lãi quá hạn là 4.756.875 đồng, không yêu cầu lãi chậm trả.

4.2. Buộc ông T4 phải tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng số tiền nợ lãi phát sinh tính theo lãi suất thỏa thuận quy định tại Hợp đồng tín dụng cùng khế ước nhận nợ đính kèm đã ký kể từ ngày 18/6/2025 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

4.3. Nếu bên vay là ông T4 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán các khoản tiền nêu trên cho Ngân hàng thì đề nghị Tòa án tuyên Ngân hàng có quyền đề nghị Cơ quan thi hành án có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mại các tài sản bảo đảm của khoản vay để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho MB, tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1365, TBĐ số 24, diện tích: 201 m², địa chỉ: thị trấn L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền và hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CT 789952, số vào số cấp GCN: CS 12856 do Sở T5 cấp ngày 13/12/2019, xác nhận chuyển nhượng cho ông Lê Huỳnh Hoài T4 ngày 23/12/2022. Việc thế chấp đã được ông Lê Huỳnh Hoài T4 và M2 ký Hợp đồng thế chấp số 81437.22.801.19899306.BĐ ngày 28/12/2022. Hợp đồng thế chấp được công chứng tại Văn Phòng C và đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện B theo quy định.

4.4. Trường hợp số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản đảm bảo không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông T4 vẫn tiếp tục phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP Q đến khi tất toán khoản vay.

Trường hợp ông T4 đã trả hết khoản nợ trên thì Ngân hàng sẽ hoàn trả toàn bộ bản chính các Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất nêu trên cho ông T4.

- Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Lê Huỳnh Hoài Thanh V mặt nên không có ý kiến trình bày.

Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, ông Trương Phương N1 giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn ông Lê Huỳnh Hoài Thanh vắng M không lý do.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa phát biểu như sau:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử, nguyên đơn đã thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không đến Tòa án làm việc theo giấy triệu tập là thực hiện không đúng quy định tại Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra công khai tại phiên tòa nhận thấy có đủ cơ sở đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q, buộc ông Lê Huỳnh Hoài T4 phải thanh toán số tiền nợ theo các hợp đồng tín dụng với tổng số tiền tính đến ngày 17/6/2025 là 902.009.499 đồng (trong đó tiền nợ gốc: 788.579.664 đồng, tiền nợ lãi trong hạn: 108.672.960 đồng, lãi quá hạn: 4.756.875 đồng); đồng thời, buộc ông T4 còn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại các Hợp đồng tín dụng kể từ ngày 18/6/2025 đến ngày trả hết nợ. Trường hợp ông T4 không trả nợ được cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1365, TBĐ số 24, diện tích: 201 m², địa chỉ: thị trấn L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền và hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CT 789952, số vào số cấp GCN: CS 12856 do Sở T5 cấp ngày 13/12/2019, xác nhận chuyển nhượng cho ông Lê Huỳnh Hoài T4 ngày 23/12/2022 để đảm bảo thi hành án theo quy định. Về án phí và chi phí tố tụng xem xét, thẩm định tại chỗ: Ông T4 phải chịu án phí sơ thẩm và chi phí tố tụng xem xét, thẩm định tại chỗ. Ngân hàng TMCP Q phải chịu lệ phí đăng trên phương tiện thông tin đại chúng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tố tụng:

[1.1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Lê Huỳnh Hoài T4 đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.

[1.2] Về quan hệ tranh chấp: Đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án.

[1.3] Về thẩm quyền: Bị đơn ông Lê Huỳnh Hoài T4 hiện đang cư trú tại Thôn T, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thị xã Ninh Hoà theo quy định tại khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện đòi nợ tiền gốc, tiền lãi trong hạn, tiền lãi quá hạn của nguyên đơn thì thấy:

- Xét tính hiệu lực của Hợp đồng tín dụng số 0001.22.801.19899306.TD ngày 20/12/2022 cùng khế ước nhận nợ số LD2235454900; Theo đó, Ngân hàng cho ông Lê Huỳnh Hoài T4 vay 845.000.000đ; mục đích vay là mua bất động sản; ngày nhận nợ 20/12/2022; thời hạn vay 240 tháng; lãi suất vay 13,1%/năm, lãi suất có điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần; lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn, lãi suất chậm trả là 10%/năm. Nội dung của Hợp đồng tuân thủ các quy định của pháp luật. Xác định Hợp đồng tín dụng cùng khế ước nhận nợ có hiệu lực pháp luật và các bên phải thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình theo thỏa thuận của Hợp đồng.

- Xét yêu cầu buộc bị đơn phải trả toàn bộ tiền gốc, tiền lãi phát sinh của nguyên đơn: Thực hiện Hợp đồng tín dụng, Ngân hàng đã giải ngân cho ông T4 vay số tiền 845.000.000đ, ông T4 đã nhận đủ tiền thông qua khế ước nhận nợ. Như vậy, Ngân hàng đã thực hiện đúng thỏa thuận trong hợp đồng.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông T4 không thực hiện nghĩa vụ theo các kỳ trả nợ quy định tại Hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ đã ký kết. Tại phiên tòa, đại diện Ngân hàng yêu cầu ông T4 trả nợ số tiền tính đến hết ngày 17/6/2025 là 902.009.499 đồng. Trong đó: nợ gốc là 788.579.664 đồng; nợ lãi trong hạn là 108.672.960 đồng; nợ lãi quá hạn là 4.756.875 đồng. Đồng thời, đại diện Ngân hàng yêu cầu ông T4 phải tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng số tiền nợ lãi phát sinh tính theo lãi suất thỏa thuận quy định tại Hợp đồng tín dụng cùng khế ước nhận nợ đính kèm đã ký kể từ ngày 18/6/2025 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ. Như vậy, ông T4 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 25/4/2024 và vi phạm Hợp đồng. Do đó, Ngân hàng khởi kiện đề nghị buộc ông T4 phải trả toàn bộ số nợ gốc, tiền lãi phải trả theo Hợp đồng tín dụng là có căn cứ pháp luật, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Do vậy buộc ông T4 phải có nghĩa vụ trả Ngân hàng toàn bộ số tiền còn nợ của Hợp đồng tín dụng tính đến hết ngày 17/6/2025 là 902.009.499 đồng. Trong đó: nợ gốc là 788.579.664 đồng; nợ lãi trong hạn là 108.672.960 đồng; nợ lãi quá hạn là 4.756.875 đồng. Ông T4 phải tiếp tục trả cho Ngân hàng số tiền lãi phát sinh tính theo lãi suất thỏa thuận quy định tại Hợp đồng tín dụng cùng khế ước nhận nợ đính kèm đã ký kể từ ngày 18/6/2025 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

[2.2] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc xử lý tài sản thế chấp:

Đối với yêu cầu đề nghị xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản:

Xét: Hợp đồng thế chấp số 81437.22.801.19899306.BĐ ngày 28/12/2022. Hợp đồng thế chấp được công chứng tại Văn Phòng C và đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện B theo quy định. Theo đó để đảm bảo cho khoản vay của Ngân hàng Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1365, TBĐ số 24, diện tích: 201 m², địa chỉ: thị trấn L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền và hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CT 789952, số vào số cấp GCN: CS 12856 do Sở T5 cấp ngày 13/12/2019, xác nhận chuyển nhượng cho ông Lê Huỳnh Hoài T4 ngày 23/12/2022.

Khi tham gia ký kết hợp đồng thế chấp tự nguyện ký kết, không bị ép buộc, không bị lừa dối, các chủ thể đều có đủ năng lực hành vi dân sự; các điều khoản của hợp đồng không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội, tài sản thế chấp được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Như vậy, Hợp đồng thế chấp tài sản đã thực hiện đúng về hình thức, trình tự, thủ tục và tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Theo đó thỏa thuận trong Hợp đồng thế chấp có hiệu lực pháp luật và các bên phải thực hiện quyền, nghĩa vụ theo thỏa thuận của Hợp đồng thế chấp tài sản.

Do vậy yêu cầu của nguyên đơn đề nghị được xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ là có căn cứ và phù hợp với thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Theo đó, trường hợp ông T4 không thực hiện nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền đề nghị cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1365, TBĐ số 24, diện tích: 201 m², địa chỉ: thị trấn L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền và hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CT 789952, số vào số cấp GCN: CS 12856 do Sở T5 cấp ngày 13/12/2019, xác nhận chuyển nhượng cho ông Lê Huỳnh Hoài T4 ngày 23/12/2022.

Trường hợp số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản đảm bảo không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông T4 phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP Q đến khi tất toán khoản vay.

Khi ông T4 thanh toán xong các khoản nợ thì Ngân hàng phải trả các giấy tờ liên quan đến quyền sử dụng đất, tài sản thế chấp các bên đã ghi nhận trong hợp đồng.

[3] Về chi phí tố tụng khác: Do yêu cầu nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải hoàn trả cho nguyên đơn toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ số tiền là 5.000.000đ (Bằng chữ: Năm triệu đồng chẵn).

[4] Về lệ phí đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng: Do Ngân hàng TMCP Q yêu cầu thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng nên Ngân hàng phải chịu lệ phí đăng trên phương tiện thông tin đại chúng với số tiền là 2.500.000₫ (Bằng chữ: Hai triệu năm trăm đồng chẵn). Ngân hàng TMCP Q đã nộp đủ lệ phí.

[5] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định là 39.060.285₫ (Bằng chữ: Ba mươi chín triệu không trăm sáu mươi nghìn hai trăm tám mươi lăm đồng) Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền 18.510.000đ (Bằng chữ: Mười tám triệu năm trăm mười nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0006535 ngày 10/12/2024 của Chi Cụchành án dân sự thị xã N.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ điểm a khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 180; khoản 2 Điều 227; Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Căn cứ Điều 116; Điều 117; Điều 299; Điều 317; Điều 318; Điều 320; Điều 323; Điều 351; Điều 357; Điều 463; Điều 466; Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
  • Căn cứ Điều 91 và Điều 95 Luật Tổ chức tín dụng năm 2010;
  • Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Q2.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q.

- Buộc bên vay là ông Lê Huỳnh Hoài T4 thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP Q các khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng cùng Khế ước nhận nợ đính kèm đã ký nêu trên giữa các bên với số tiền tính đến hết ngày 17/6/2025 là 902.009.499 đồng (Bằng chữ: Chín trăm lẻ hai triệu không trăm lẻ chín nghìn bốn trăm chín mươi chín đồng). Trong đó: nợ gốc là 788.579.664 đồng; nợ lãi trong hạn là 108.672.960 đồng; nợ lãi quá hạn là 4.756.875 đồng.

- Buộc ông T4 phải tiếp tục trả cho Ngân hàng TMCP Q tiền lãi phát sinh tính theo lãi suất thỏa thuận quy định tại Hợp đồng tín dụng cùng khế ước nhận nợ đính kèm đã ký kể từ ngày 18/6/2025 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

- Nếu bên vay là ông T4 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán các khoản tiền nêu trên cho Ngân hàng TMCP Q thì Ngân hàng TMCP Q có quyền đề nghị Cơ quan thi hành án có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm của khoản vay để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng TMCP Q, tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1365, TBĐ số 24, diện tích: 201 m², địa chỉ: thị trấn L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền và hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CT 789952, số vào số cấp GCN: CS 12856 do Sở T5 cấp ngày 13/12/2019, xác nhận chuyển nhượng cho ông Lê Huỳnh Hoài T4 ngày 23/12/2022.

Trường hợp số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản đảm bảo không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông T4 phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP Q đến khi tất toán khoản vay.

Trường hợp ông T4 đã trả hết khoản nợ trên thì Ngân hàng TMCP Q sẽ hoàn trả toàn bộ bản chính các Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất nêu trên cho ông T4.

2. Về chi phí tố tụng khác: Bị đơn phải hoàn trả cho nguyên đơn chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ với số tiền là 5.000.000đ (Bằng chữ: Năm triệu đồng chẵn).

- Quy định: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án đối với chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ của người được thi hành án (đối với các khoản tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Về lệ phí đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng: Ngân hàng TMCP Q phải chịu lệ phí đăng trên phương tiện thông tin đại chúng với số tiền là 2.500.000₫ (Bằng chữ: Hai triệu năm trăm đồng chẵn). Ngân hàng TMCP Q đã nộp đủ lệ phí.

4. Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định là 39.060.285₫ (Bằng chữ: Ba mươi chín triệu không trăm sáu mươi nghìn hai trăm tám mươi lăm đồng). Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền 18.510.000₫ (Bằng chữ: Mười tám triệu năm trăm mười nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0006535 ngày 10/12/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Ninh Hòa.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

* Quy định chung: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

- Các đương sự;

- TAND tỉnh Khánh Hòa;

- VKSND thị xã Ninh Hòa;

- Chi cục THA dân sự thị xã Ninh Hòa;

- Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN– CHỦ TỌA PHIÊNTÒA

Nguyễn Hoàng Đạt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2025/DS-ST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 28/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: DS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger