Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẦN GIUỘC,

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2025/DS-ST

Ngày: 16-4-2025

V/v tranh chấp hợp đồng dịch vụ

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Nguyễn Xuân An

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đặng Văn Vững

Ông Nguyễn Công Danh

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Tuấn Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc

Trong ngày 16 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 54/2025/TLST-DS ngày 21 tháng 02 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2025/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Minh H, sinh năm 1977;

Địa chỉ: Khu phố K, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An.

- Bị đơn: Ông Mai Quốc D, sinh năm 1971; Địa chỉ: Khu phố K, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Phú H1, sinh năm 1974; Địa chỉ: Khu phố T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An.

Các đương sự có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự, vụ án có nội dung như sau:

Nguyên đơn – ông Nguyễn Minh H trình bày: Ông Nguyễn Minh H là chủ sử dụng thửa đất số 2072, Tờ bản đồ số 59, diện tích 2.302m², đất trồng lúa, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành CV 757183, số vào sổ CS 03619, do Sở T cấp ngày 08-5-2020. Do có nhu cầu điều chỉnh quy hoạch, cụ thể mở lối đi cho thửa đất trên, ông nhờ ông Mai Quốc D thực hiện thủ tục nêu trên.

Ngày 17-01-2022, ông Mai Quốc D và ông đã ký kết Hợp đồng dịch vụ xin làm đường cho Thửa đất số 2072, Tờ bản đồ số 59 nhằm mở lối đi 4m (Hợp đồng không có công chứng, chứng thực). Theo đó, thỏa thuận phí dịch vụ là 400.000.000 đồng, thanh toán trong 02 lần:

  • - Lần 1: 300.000.000 đồng khi ký hợp đồng.
  • - Lần 2: 100.000.000 đồng sau khi hoàn tất hợp đồng.

Thời gian thực hiện dịch vụ là 03 tháng kể từ ngày ký hợp đồng.

Ngay sau khi ký hợp đồng, ông đã chuyển khoản trước cho ông D 300.000.000 đồng. Do ông D không có tài khoản, ông D yêu cầu ông chuyển khoản vào tài khoản tên ông Phạm Phú H1. Ngoài ra, ông D đã làm thêm cho ông một Hợp đồng vay tài sản không có biện pháp đảm bảo vào ngày 17-01-2022, được công chứng tại Văn phòng C, huyện C, tỉnh Long An. Theo đó, ông D có vay của ông số tiền là 300.000.000 đồng. Đây là hợp đồng để đảm bảo việc ông D có nhận từ ông số tiền 300.000.000 đồng, giữa hai bên không có quan hệ vay mượn, ông và ông D sẽ tự giải quyết về hiệu lực Hợp đồng vay này, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Khi hết hạn hợp đồng mà ông D vẫn chưa thực hiện được công việc đã thỏa thuận, ông yêu cầu ông D trả lại 300.000.000 đồng đã nhận. Lúc này, ông D mới thông báo với ông là công việc trên ông D giao cho ông H1 thực hiện. Trước đó, ông không biết việc này. Ông D nói khi nào ông H1 trả tiền thì ông D mới trả tiền cho ông. Mặc dù đã nhiều lần hứa hẹn nhưng đến nay, ông D vẫn chưa trả lại số tiền đã nhận cho ông.

Vì vậy, ông Nguyễn Minh H khởi kiện yêu cầu:

  • - Hủy bỏ Hợp đồng dịch vụ ngày 17-01-2022 giữa ông Nguyễn Minh H và ông Mai Quốc D.
  • - Buộc ông Mai Quốc D phải trả lại cho ông Nguyễn Minh H 300.000.000 đồng.

Tại thời điểm ký Hợp đồng dịch vụ với ông Mai Quốc D, ông không biết ông Phạm Phú H1, ông chỉ thỏa thuận, giao dịch với ông Mai Quốc D, nên chỉ yêu cầu ông D có trách nhiệm thanh toán số tiền nêu trên.

Bị đơn – ông Mai Quốc D trình bày: Vào ngày 17-01-2022, ông có nhận làm dịch vụ xin mở lối đi 4m cho Thửa đất số 2072, Tờ bản đồ số 59, đất tại Khu phố K, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An, do ông Nguyễn Minh H đứng tên. Theo đó, hai bên có ký Hợp đồng dịch vụ, thỏa thuận phí dịch vụ là 400.000.000 đồng chia làm hai đợt thanh toán, đợt 1: 300.000.000 đồng khi ký Hợp đồng, đợt 2: 100.000.000 đồng sau khi hoàn tất hợp đồng. Sau đó, ông liên lạc với ông Phạm Phú H1, ông H1 nhận làm nên ông giao hồ sơ của ông H lại cho ông H1 làm. Ông nhận số tiền 300.000.000 đồng từ ông H, nhưng ông yêu cầu ông H chuyển khoản vào tài khoản do ông Phạm Phú H1 đứng tên. Sau đó, để đảm bảo là ông đã nhận tiền, ông có làm cho ông H một Hợp đồng vay tài sản với số tiền vay là 300.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền, ông H1 cũng làm một Hợp đồng vay tài sản với ông để đảm bảo là ông H1 đã nhận số tiền 300.000.000 đồng. Các Hợp đồng vay giữa ông và ông H1, giữa ông và ông D sẽ do ông và ông H1, ông D tự thương lượng giải quyết, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Sau khi nhận tiền, đến nay, ông H1 vẫn chưa thực hiện xong công việc nêu trên. Ông H có yêu cầu ông trả lại số tiền 300.000.000 đồng, lúc này ông có nói cho ông H biết ông giao lại công việc của ông H cho ông H1 thực hiện, ông có yêu cầu ông H1 trả lại số tiền đã nhận, ông H1 hứa hẹn nhiều lần nhưng đến nay vẫn chưa thanh toán. Do đó, ông khởi kiện yêu cầu ông Phạm Phú H1 trả cho ông số tiền 300.000.000 đồng mà ông H1 đã nhận, ông không đồng ý đề xuất trả dần của ông H1.

Tại thời điểm ông giao dịch với ông Nguyễn Minh H, ông H không biết ông H1, chỉ có cá nhân ông giao dịch và cam kết với ông H. Vì ông yêu cầu nên ông H mới chuyển khoản cho ông H1. Với yêu cầu khởi kiện của ông H, ông không đồng ý thanh toán tiền cho ông H, vì ông không trực tiếp nhận và không có giữ số tiền trên. Chỉ khi nào ông H1 trả lại 300.000.000 đồng thì ông mới thanh toán cho ông H.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Phạm Phú H1 trình bày: Ông Phạm Phú H1 có nhận số tiền 300.000.000 đồng từ tài khoản của ông Nguyễn Minh H để thực hiện thủ tục xin mở lối đi trên thửa đất do ông Nguyễn Minh H đứng tên. Ông nhận thực hiện dịch vụ này từ ông Mai Quốc D. Ông D là người trực tiếp nhận công việc từ ông Nguyễn Minh H, sau đó, ông D mới giao công việc này lại cho ông, và ông D nói ông H trực tiếp chuyển khoản cho ông. Ông và ông H không có giao dịch với nhau, chỉ khi ông H đòi lại tiền thì ông và ông H mới gặp nhau. Tuy nhiên, đến nay vì nhiều lý do nên không thể thực hiện được công việc như thỏa thuận. Ông D yêu cầu ông trả lại số tiền 300.000.000 đồng, ông không đủ khả năng thanh toán một lần nên đề nghị được trả dần.

Tại phiên tòa, các đương sự vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của đương sự và nội dung vụ án, Tòa án xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ” theo quy định tại Khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn cư trú tại thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Minh H,

Theo Hợp đồng dịch vụ ngày 17-01-2022 giữa ông Nguyễn Minh H và ông Mai Quốc D, ông Mai Quốc D nhận làm dịch vụ chuyển đổi mục đích sử dụng đất cho ông Nguyễn Minh H đối với Thửa đất số 2072, Tờ bản đồ số 59, đất tại xã T (nay là thị trấn C), huyện C, tỉnh Long An, cụ thể là chuyển mở lối đi 4m. Với phí dịch vụ là 400.000.000 đồng, thanh toán hai lần, cụ thể: lần 1: ông H đưa trước cho ông D 300.000.000 đồng, lần 2: khi hoàn tất hồ sơ, ông H sẽ thanh toán số tiền còn lại là 100.000.000 đồng. Thời hạn hoàn thành công việc là 03 tháng kể từ ngày ký Hợp đồng. Thực hiện Hợp đồng ngày 17-01-2022, ông Nguyễn Minh H đã thanh toán cho ông Mai Quốc D số tiền là 300.000.000 đồng, thông qua hình thức chuyển khoản vào tài khoản mang tên Phạm Phú H1 mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần S theo đề nghị của ông D. Ông H và ông D thừa nhận diễn biến sự việc nêu trên, căn cứ Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là tình tiết không cần chứng minh. Qua đó, xác định giao dịch giữa ông H và ông D là hợp đồng dịch vụ, trong đó ông H là bên sử dụng dịch vụ, ông D là bên cung ứng dịch vụ, ông H đã giao cho ông D số tiền 300.000.000 đồng như thỏa thuận.

Theo lời trình bày của ông Mai Quốc D, quá trình thực hiện hợp đồng, ông D giao lại công việc nêu trên cho ông Phạm Phú H1 thực hiện, ông D không thông báo và không có sự đồng ý của ông H. Ông H xác định không biết sự việc này cho đến khi ông D không thực hiện được công việc như thỏa thuận, ông yêu cầu ông D trả lại số tiền đã nhận thì ông D thông báo cho ông biết là đã giao cho ông H1 làm, khi nào ông H1 trả lại tiền thì ông D mới thanh toán cho ông. Theo quy định về nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ tại Khoản 2 Điều 517 Bộ luật Dân sự năm 2015 “Không được giao cho người khác thực hiện công việc nếu không có sự đồng ý của bên sử dụng dịch vụ”. Như vậy, việc ông D giao công việc cho ông H1 thực hiện mà không có sự đồng ý của ông H là đã vi phạm nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ. Đồng thời xác định trong giao dịch này chỉ phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa ông D với ông H.

Tại Điều 423 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định “1. Một bên có quyền hủy bỏ hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại trong trường hợp sau đây: .....b) Bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng... 2. Vi phạm nghiêm trọng là việc không thực hiện đúng nghĩa vụ của một bên đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng”. Thấy rằng, đã quá thời hạn thỏa thuận trong hợp đồng nhưng ông D vẫn chưa thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ đã thỏa thuận tại Hợp đồng dịch vụ ngày 17-01-2022, tại phiên tòa ông D xác định là không thể thực hiện được công việc như đã giao kết, như vậy ông D đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng, ông H khởi kiện yêu cầu hủy bỏ Hợp đồng dịch vụ ngày 17-01-2022 là có cơ sở chấp nhận.

Theo quy định hậu quả của việc hủy bỏ hợp đồng tại Khoản 2 Điều 427 Bộ luật Dân sự năm 2015 “Các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận sau khi trừ chi phí hợp lý trong việc thực hiện hợp đồng và chi phí bảo quản, phát triển tài sản”. Trong trường hợp này, phía ông D vẫn chưa thực hiện được bất kì nội dung nào thỏa thuận trong hợp đồng, ông H không nhận tài sản gì từ ông D, ông D đã xác nhận nhận số tiền 300.000.000 đồng từ ông H. Do đó, ông H yêu cầu ông D trả lại 300.000.000 đồng là có cơ sở chấp nhận.

[2.2] Xét yêu cầu khởi kiện của ông Mai Quốc D.

Quá trình giải quyết vụ án, ông D và ông H1 đều thống nhất trình bày: Ông H1 có nhận số tiền 300.000.000 đồng của ông D thông qua chuyển khoản từ ông H, để thực hiện dịch vụ chuyển mở lối đi trên thửa đất của ông H với thời hạn thực hiện là 03 tháng. Giữa ông H1 và ông D không lập hợp đồng dịch vụ mà lập Hợp đồng vay tài sản để xác định là ông H1 có nhận số tiền 300.000.000 đồng từ ông D. Đến nay, ông H1 xác định không thể thực hiện được công việc như đã thỏa thuận với ông D, ông đồng ý thanh toán cho ông D 300.000.000 đồng nhưng đề nghị được trả dần. Do đó, yêu cầu khởi kiện của ông D về việc yêu cầu ông H1 thanh toán cho ông số tiền 300.000.000 đồng là có cơ sở chấp nhận, do ông D không đồng ý cho ông H1 trả dần nên không có cơ sở ghi nhận việc trả dần.

[2.3] Đối với các Hợp đồng vay tài sản giữa ông H1 với ông D, giữa ông D với ông H được công chứng tại Văn phòng C, các đương sự đều xác định việc lập các hợp đồng này nhằm xác định đã có việc giao nhận số tiền 300.000.000 đồng để thực hiện dịch vụ mở lối đi 4m cho ông H, không phải là hợp đồng vay tiền trên thực tế. Ông H1, ông D, ông H xác định sẽ tự thỏa thuận hủy bỏ các Hợp đồng này, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét hiệu lực của các hợp đồng này.

[2.4] Ông H xác định trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông chỉ giao dịch với cá nhân ông D, nên ông xác định chỉ yêu cầu cá nhân ông D thanh toán tiền. Thấy rằng, hợp đồng và quá trình thực hiện hợp đồng chỉ ghi nhận quyền và nghĩa vụ giữa ông D với ông H, không thể hiện có thỏa thuận về sự tham gia của ông H1. Việc ông D chuyển giao công việc cho ông H1 mà không có sự đồng ý của ông H, nên chỉ có ông D có trách nhiệm thanh toán cho ông H. Giao dịch giữa ông D và ông H1 là độc lập, không có ý kiến và sự tham gia của ông H nên ông H1 chỉ có trách nhiệm với ông D, không phải với ông H. Vì vậy, mặc dù nội dung công việc trong hai giao dịch là một, nhưng giao dịch giữa ông H với ông D là độc lập với giao dịch giữa ông H1 với ông D. Hơn nữa các đương sự vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện chủ thể có nghĩa vụ trả tiền. Vì vậy, không có cơ sở để xem xét cấn trừ nghĩa vụ giữa các đương sự, không có cơ sở tuyên cho ông H1 có trách nhiệm thanh toán tiền cho ông H hoặc ông H1 và ông D có trách nhiệm liên đới thanh toán tiền cho ông H.

[3] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của các đương sự được chấp nhận, nên ông D, ông H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các điều 423, 424, 427, 513, 514, 516, 517 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Minh H về việc “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ” với ông Mai Quốc D.

  • - Hủy bỏ Hợp đồng dịch vụ ngày 17-01-2022 giữa ông Nguyễn Minh H với ông Mai Quốc D.
  • - Ông Mai Quốc D phải trả lại cho ông Nguyễn Minh H số tiền 300.000.000 đồng.

2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Mai Quốc D về việc “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ” với ông Phạm Phú H1.

Ông Phạm Phú H1 phải trả lại cho ông Mai Quốc D số tiền 300.000.000 đồng.

3. Về án phí:

  • - Ông Mai Quốc D phải chịu 15.300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 7.500.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 14057 ngày 18-02-2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An, ông D còn phải nộp 7.800.000 đồng.
  • - Ông Phạm Phú H1 phải chịu 15.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  • - H2 lại cho ông Nguyễn Minh H 7.500.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 14038 ngày 14-02-2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc.

4. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

5. Về quyền kháng cáo: Bản án sơ thẩm, các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - VKSND huyện Cần Giuộc;
  • - THADS huyện Cần Giuộc;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, lưu VT;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Nguyễn Xuân An

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2025/DS-ST ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng dịch vụ

  • Số bản án: 28/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng dịch vụ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ - yêu cầu trả lại số tiền dịch vụ đã thanh toán trước
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger