Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TH

TỈNH TH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2025/DS-ST

Ngày: 13-6-2025

V/v: Tranh chấp hợp đồng

cầm cố tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TH, TỈNH TH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Ninh Thị Khánh Tân

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Loan
  2. Bà Nguyễn Thị Hạnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh – Thư ký Tòa án, TAND thành phố TH, tỉnh TH.

- Đại diện VKSND thành phố TH tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quang – Kiểm sát viên.

Ngày 13/6/2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố TH xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự về: “Tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản” thụ lý số 93/2024/TLST-DS ngày 21 tháng 11 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2025/QĐXXST-DS ngày 05/5/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty Cổ phần SW.

Địa chỉ: Số 128 Nguyễn Du, P. BT thành phố V, tỉnh NA.

Đại diện theo pháp luật: Ông K Nt – Chức vụ: Giám đốc.

Người đại diện theo uỷ quyền: ông Trần Quốc H - Chức vụ: Nhân viên Công ty cổ phần SW.

Địa chỉ: Thôn ÉG, xã QH, huyện QX, tỉnh TH.

- Bị đơn: Ông Ngô T S, sinh năm: 1995

Địa chỉ: 14/442 HTLO, phường QT, thành phố TH, tỉnh TH.

Tại phiên toà vắng mặt đại diện Nguyên đơn và vắng mặt Bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và đơn khởi kiện bổ sung, bản tự khai ngày 15/01/2025, Biên bản hoà giải ngày 15/01/2025 và tại Bản trình bày ngày 30/5/2025 Nguyên đơn - Công ty Cổ phần Sw (sau đây gọi tắt là Công ty Sw) trình bày:

Ngày 11/4/2023 ông Ngô T S có cầm cố tài sản với Công ty Sawad theo Hợp đồng cầm cố số QXM230401004NA16X và giấy mượn xe ký ngày 11/4/2023, số đăng ký giao dịch đảm bảo trên hệ thống đăng ký trực tuyến của Cục đăng ký Quốc gia : Giaodichdambao/botuphap: 1496251371 tại trang Web: http://dktructuyen.moj.gov.vn/. Tài sản cầm cố là một xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter 135cc, màu đỏ, BKS 36B8 – 441.59, số khung RLCE1S9A0GY077442, số máy 1S9A077460, số giấy chứng nhận đăng ký: (36)058134 do Phòng CSGT Công an tỉnh TH cấp ngày 28/10/2021, hiện nay công ty đang quản lý giấy tờ xe mô tô. Số tiền cầm cố là 11.000.000đồng, thời hạn cầm cố là 12 tháng, mục đích phục vụ tiêu dùng cá nhân, lãi suất: 1,1%/tháng, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.

Do nhu cầu đi lại phục vụ công việc nên ngày 11/4/2023 ông Ngô T S đã có đơn gửi Chi nhánh TH – Nông Cống 1 – Công ty Sw xin mượn lại chiếc xe đã cầm cố để phục vụ đi lại và cam kết theo nội dung giấy mượn xe, thời gian mượn xe là một tháng từ ngày 11/4/2023 đến ngày 11/5/2023. Công ty đã đồng ý cho khách hàng mượn tài sản nêu trên theo nguyện vọng và khách hàng cam kết thực hiện đúng nội dung đã ký cam kết trên hợp đồng và giấy mượn xe, giấy tờ khác liên quan. Ông Ngô T S đã cam kết rõ ràng trong giấy mượn xe “Hoàn trả lại tài sản mượn đúng hạn và địa điểm đã thỏa thuận” theo yêu cầu của công ty.

Kèm theo Hợp đồng cầm cố tài sản hai bên ký kết Phụ lục Hợp đồng, theo đó, bên cầm cố tài sản đồng ý cho bên nhận cầm cố có quyền được cho thuê, cho mượn, khai thác công dụng tài sản cầm cố và hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố và không hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó cho khách hàng khi hợp đồng chấm dứt. Ngoài ra, hai bên thỏa thuận các loại phí hợp lý khác gồm: phí tổ chức kiểm tra giá trị tài sản ban đầu: 165.000đ; phí đăng ký và xóa giao dịch đảm bảo: 150.000đ (hai loại phí trên chỉ thu một lần tại thời điểm giao kết hợp đồng); ngoài ra theo quy định của công ty khi khách hàng cầm cố tài sản phải mua bảo hiểm cho tài sản là 6% số tiền cầm cố.

Quá trình thực hiện hợp đồng kể từ ngày ký Công ty Cổ phần Sawad Tiền có ngay đã giải ngân cho khách hàng số tiền là 11.000.000đồng theo đề nghị cầm cố và hợp đồng cầm cố số QXM230401004NA16X ký ngày 11/4/2023. Đồng thời ông S đồng ý nộp các loại phí nêu trên cho công ty bằng hình thức trừ trực tiếp vào tiền giải ngân. Do vậy công ty đã xuất phiếu chi 11.000.000đồng, phiếu thu 975.000 đồng và chuyển vào tài khoản ngân hàng của ông S số tiền còn lại: 10.025.000 đồng thể hiện tại chứng từ giao dịch tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam (tổng số tiền chuyển: 10.047.000 đồng, số tiền phí: 20.000 đồng, VAT: 2.000 đồng, ông S nhận 10.025.000 đồng).

Trong quá trình thực hiện theo Hợp đồng cầm cố và giấy mượn xe ông Ngô T S đã T toán tổng số tiền 9.138.000 đồng, gồm: số tiền gốc: 5.238.288 đồng, lãi trong hạn: 584.614 đồng (lãi 1,1%/tháng x 6 tháng), lãi quá hạn: 615.536 đồng, phí quản lý hồ sơ cố định: 279.562 (0,5% /tháng (mục 1 Phụ lục hợp đồng cầm cố), phí bảo dưỡng và hao mòn khi mượn xe: 2.640.000 đồng (08 tháng từ 11/4/2023 đến 11/12/2023 trong đó có 02 tháng được giảm 220.000 đồng, khách hàng đã T toán 2.420.000 đồng).

Đến ngày 11/05/2023 ông Ngô T S không hoàn trả lại xe theo cam kết trong giấy mượn xe, kể từ ngày 11/11/2023 ông S đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng theo cam kết trong hợp đồng cầm cố, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của Công ty. Công ty đã nhiều lần làm việc nhắc nhở tạo điều kiện cho ông Ngô T S có thời gian thu xếp trả nợ nhưng ông vẫn không thực hiện

Tại đơn khởi kiện ngày 04/7/2024 Công ty Sw đề nghị Tòa án giải quyết: Buộc ông Ngô T S phải trả nợ tiền gốc và tiền lãi cho Công ty Sawad tạm tính đến ngày 25/6/2024 số tiền 9.328.000 đồng gồm: Tiền gốc: 5.761.712 đồng; tiền lãi trong hạn: 224.760 đồng; phí quản lý hồ sơ: 88.335 đồng; lãi quá hạn: 865.172 đồng; phí bảo dưỡng và hao mòn khi mượn xe: 1.320.000 đồng; phí phạt vi phạm nghĩa vụ T toán: 460.937 đồng; chi phí tố tụng: 607.481 đồng. Ngoài ra ông S còn phải tiếp tục chịu lãi suất và phí phát sinh theo hợp đồng cầm cố và giấy mượn xe theo thỏa thuận kể từ ngày 26/6/2024 cho đến khi T toán xong nợ. Đồng thời nếu ông S không thực hiện trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Công ty có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế, kể cả việc kê biên, phát mại, xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ. Trường hợp số tiền thu được từ xử lý tài sản bảo đảm không đủ T toán hết khoản nợ thì ông S vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Công ty.

Ngày 30/5/2025, Nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về: Phí quản lý hồ sơ: 88.335 đồng, phí phạt vi phạm nghĩa vụ T toán: 460.937 đồng, chi phí tố tụng: 607.481 đồng, tổng là 1.156.753 đồng. Rút yêu cầu tòa án giải quyết nội dung: Trường hợp ông Ngô T S không thực hiện T toán khoản vay bằng tiền thì đề nghị Tòa án tuyên buộc ông S phải trả lại chiếc xe máy đã mượn. Trường hợp không thực hiện một trong hai phương án T toán khoản vay nói trên thì đề nghị Tòa án tuyên cho Công ty Sawad có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế, kể cả việc kê biên, phát mại, xử lý tài sản đảm bảo không đủ T toán hết khoản nợ thì ông S vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho công ty.

Đề nghị Tòa án giải quyết: Buộc ông Ngô T S phải trả số tiền nợ tạm tính đến ngày 30/5/2025 (Sau khi kết thúc Hợp đồng ngày 11/4/2024, lãi quá hạn được tính phát sinh theo tháng và kết thúc vào ngày cuối cùng của tháng) là 8.775.629 đồng, trong đó: tiền gốc còn nợ là: 5.761.712 đồng, lãi trong hạn: 224.760 đồng, lãi quá hạn: 1.469.157 đồng; phí bảo dưỡng và hao mòn khi mượn xe chưa T toán cho đến ngày kết thúc Hợp đồng cầm cố: 1.320.000 đồng (4 tháng từ 11/12/2023 đến 11/4/2024). Và buộc ông S tiếp tục chịu lãi suất phát sinh tính từ ngày 01/6/2025 cho đến khi tất toán khoản nợ theo lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng.

Tại Bản tự khai và biên bản hoà giải ngày 15/01/2024 và quá trình giải quyết tại Tòa án, ông Ngô T S trình bày:

Ngày 11/4/2023 ông có cầm cố tài sản với Chi nhánh TH – Nông Cống 1 – Công ty Sawad theo Hợp đồng cầm cố và giấy mượn xe ký ngày 11/4/2023, tài sản cầm cố là một xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter 135cc số tiền cầm cố là 11.000.000đ thời hạn cầm cố là 12 tháng mục đích phục vụ tiêu dùng cá nhân, ngày giải ngân là 11/4/2023 kết thúc hợp đồng là 11/4/2024. Kể từ ngày ký Hợp đồng, Công ty Cổ phần Sawad Tiền có ngay đã giải ngân cho ông số tiền là 10.000.0000đ. Do nhu cầu đi lại phục vụ công việc ông đã có đơn xin gửi công ty xin mượn lại chiếc xe để phục vụ đi lại. Quá trình thực hiện hợp đồng cầm cố ông đã trả cho công ty được 9.138.000 đồng.

Nay Công ty Sawad khởi kiện thì ông đã được xem các giấy tờ của công ty và không đồng ý những nội dung sau: số tiền ông nhận được từ công ty chỉ có 10.000.000đ. Quá trình làm việc thì nhân viên của công ty là anh Lê Viết Hồng – nhân viên của Công ty Sawad chi nhánh Quảng Xương có khẳng định số tiền nộp cũng sẽ rất ít. Đến cuối năm 2023 ông muốn T lý hợp đồng và liên hệ với chi nhánh thì lại được thông báo số tiền quá lớn nên ông không thể chi trả được. Ông cũng chưa bao giờ nhận được thông báo hay được hẹn để giải quyết hợp đồng. Ông đề nghị công ty cử nhân viên của chi nhánh Quảng Xương liên hệ với ông để tìm cách giải quyết.

Nay công ty khởi kiện thì ông không đồng ý, ông chỉ T toán nốt số tiền gốc và cho ông nhận lại đăng ký xe, chấm dứt hợp đồng và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên toà:

Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, HĐXX, thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng: Thẩm phán, HĐXX, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định.

Quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Ngô T S phải trả cho Công ty CP Sawad Tiền Có Ngay: số tiền nợ tạm tính đến ngày 30/5/2025 là 8.775.629 đồng, trong đó: tiền gốc còn nợ là: 5.761.712 đồng, lãi trong hạn: 224.760 đồng, lãi quá hạn: 1.469.157 đồng; phí bảo dưỡng và hao mòn khi mượn xe chưa T toán cho đến ngày kết thúc Hợp đồng cầm cố: 1.320.000 đồng (4 tháng từ 11/12/2023 đến 11/4/2024).

Kể từ ngày 01/6/2025, ông S còn phải chịu trách nhiệm trả cho Công ty Sawad khoản tiền lãi phát sinh cho đến khi tất toán nợ theo lãi suất mà 2 bên đã thỏa thuận trong hợp đồng cầm cố.

Đình chỉ yêu cầu xử lý tài sản cầm cố đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter 135cc, màu đỏ, số khung RLCE1S9A0GY077442, số máy 1S9A077460, số giấy chứng nhận đăng ký: (36)058134 do Phòng CSGT Công an tỉnh TH cấp ngày 28/10/2021; đình chỉ yêu cầu khởi kiện về phí quản lý hồ sơ: 88.335 đồng, phí phạt vi phạm nghĩa vụ T toán: 460.937 đồng, chi phí tố tụng: 607.481 đồng, tổng là 1.156.753 đồng do nguyên đơn rút yêu cầu.

Án phí: Thực hiện theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Ngô T S là bị đơn đang cư trú tại phường Quảng Thắng, thành phố TH, nên Tòa án nhân dân thành phố TH giải quyết tranh chấp là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2]. Về quan hệ tranh chấp: HĐXX xác định đây là quan hệ tranh chấp Hợp đồng cầm cố tài sản.

[2] Xét yêu cầu của nguyên đơn:

[2.1]. Ngày 30/5/2025, Nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện: về phí quản lý hồ sơ: 88.335 đồng, phí phạt vi phạm nghĩa vụ T toán: 460.937 đồng, chi phí tố tụng: 607.481 đồng, tổng là 1.156.753 đồng và Rút yêu cầu Tòa án giải quyết về việc xử lý tài sản cầm cố đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter 135cc, màu đỏ, số khung RLCE1S9A0GY077442, số máy 1S9A077460, số giấy chứng nhận đăng ký: (36)058134 do Phòng CSGT Công an tỉnh TH cấp ngày 28/10/2021. Do vậy cần đình chỉ đối với các yêu cầu này.

[2.2]. Nguyên đơn đề nghị Tòa án giải quyết: Buộc ông Ngô T S phải trả số tiền nợ tạm tính đến ngày 30/5/2025 là 8.775.629 đồng, trong đó: tiền gốc còn nợ là: 5.761.712đ, Lãi trong hạn: 224.760đ, Lãi quá hạn: 1.469.157 đ ; Phí bảo dưỡng và hao mòn khi mượn xe chưa T toán cho đến ngày kết thúc Hợp đồng cầm cố: 1.320.000 đ (4 tháng từ 11/12/2023 đến 11/4/2024). Buộc ông S tiếp tục chịu lãi suất phát sinh tính từ ngày 01/6/2025 cho đến khi tất toán khoản nợ theo lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng (sau khi kết thúc Hợp đồng ngày 11/4/2024 lãi suất quá hạn được công ty Sawad tính phát sinh theo tháng và kết thúc vào ngày cuối cùng của tháng)

Tại bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án ông S cho rằng ông chỉ được nhận 10.000.000đ tiền gốc, quá trình đó ông đã trả nợ 9.138.000đ và đến nay ông không đồng ý với số tiền công ty yêu cầu. Ông đề nghị chỉ trả số tiền gốc còn lại.

Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.2.1]. Về tính hợp pháp của các hợp đồng: Giữa Công ty Sawad và ông Ngô T S ký kết Hợp đồng cầm cố tài sản số QXM230401004NA16X ngày 11/4/2023, đối tượng cầm cố là chiếc xe mô tô Yamaha Exciter 135cc, màu đỏ, BKS 36B8 – 441.59; Giấy chứng nhận đăng ký xe: (36)058134 do Phòng CSGT Công an tỉnh TH cấp ngày 28/10/2021 cho ông Ngô T S. Thời hạn của Hợp đồng là 12 tháng đến ngày 11/4/2024. Ngay sau khi ký kết hợp đồng cầm cố và được Công ty Sawad giải ngân, ông S đã làm thủ tục mượn lại chiếc xe máy để làm phương tiện đi lại và hai bên đã viết giấy mượn xe với nhau với thời hạn mượn xe từ ngày 11/4/2023 đến ngày 11/5/2023, theo đó ông S chấp nhận chịu các chi phí liên quan đến việc mượn xe. Tại Điều 8 của Hợp đồng cầm cố và mục 3.1 của Phụ lục kèm theo hợp đồng cầm cố thể hiện: “Các bên đồng ý rằng SVN có quyền được cho thuê, cho mượn, khai thác công dụng tài sản cầm cố và hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố và không phải trả các hoa lợi, lợi tức đó cho khách hàng khi hợp đồng chấm dứt”. Thoả thuận này phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 314 Bộ luật dân sự, việc Công ty SAWAD cho ông Ngô T S mượn lại chính chiếc xe mà ông S đã cầm cố là phù hợp. Hình thức và nội dung của các Hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật, có chữ ký xác nhận của chủ sở hữu chiếc xe ông Ngô T S và được ông S thừa nhận việc ký kết hợp đồng và mượn lại xe. Do vậy Hợp đồng cầm cố và giấy mượn xe với các điều kiện đã thỏa thuận là tự nguyện của các bên nên đây là hợp đồng hợp pháp

[2.2.2]. Về số tiền Công ty Sawad đã giải ngân cho ông Ngô T S: Tại Hợp đồng cầm cố tài sản và phụ lục kèm theo Hợp đồng hai bên còn thỏa thuận với nhau về các loại phí như: phí tổ chức kiểm tra giá trị tài sản ban đầu: 165.000đ, phí đăng ký và xóa giao dịch đảm bảo: 150.000đ (hai loại phí trên chỉ thu một lần tại thời điểm giao kết hợp đồng), ngoài ra theo quy định của công ty khi khách hàng cầm cố tài sản phải mua bảo hiểm cho tài sản là 6% số tiền cầm cố = 660.000 đồng; tổng số tiền mà ông S phải nộp ban đầu cho công ty là 975.000 đồng. Đây là các khoản tiền hợp lý mà hai bên đã thống nhất thỏa thuận với nhau. Lời trình bày của công ty Sawad: sau khi ký kết Hợp đồng cầm cố Công ty Sawad đã giải ngân cho ông S số tiền là 11.000.0000 đồng theo đề nghị và hợp đồng cầm cố. Đồng thời ông S đồng ý nộp các loại phí nêu trên cho công ty bằng hình thức trừ trực tiếp vào tiền giải ngân. Do vậy công ty đã xuất phiếu chi 11.000.000 đồng và phiếu thu 975.000 đồng (BL144, 145 – các phiếu chi và phiếu thu đều có chữ ký của ông S) và chuyển vào tài khoản ngân hàng của ông S số tiền còn lại: 10.025.000 đồng thể hiện tại chứng từ giao dịch tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam (tổng số tiền chuyển: 10.047.000 đồng, số tiền phí: 20.000 đồng, VAT: 2.000 đồng, ông S nhận 10.025.000 đồng) (BL143) là có cơ sở. Do vậy xác định công ty Sawad đã giải ngân cho ông Ngô T S đủ số tiền cầm cố xe 11.000.000 đồng.

[2.2.3]. Về số tiền còn nợ:

Ngoải các thỏa thuận nêu trên, hai bên còn thỏa thuận với nhau tại Hợp đồng cầm cố về lãi suất trong hạn và quá hạn, phí quản lý hồ sơ cố định; tại giấy mượn xe: phí bảo dưỡng và hao mòn khi mượn xe... và việc T toán tiền thực hiện định kỳ hàng tháng (bao gồm cốc và lãi trong hạn) theo quy định tại điểm 1 khoản 4 của Hợp đồng.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Ngô T S đã T toán tiền cầm cố được 06 kỳ tổng số tiền 9.138.000 đồng, gồm: số tiền gốc: 5.238.288 đồng, lãi trong hạn: 584.614 đồng (lãi 1,1%/tháng x 6 tháng), lãi quá hạn: 615.536 đồng, phí quản lý hồ sơ cố định: 279.562 đồng (0,5% /tháng (mục 1 Phụ lục hợp đồng cầm cố), phí bảo dưỡng và hao mòn khi mượn xe: 2.640.000 đồng (08 tháng từ 11/4/2023 đến 11/12/2023 trong đó có 02 tháng được giảm 220.000 đồng, khách hàng đã T toán 2.420.000 đồng).

Sau đó ông S đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền cầm cố (từ ngày 11/11/2023) và vi phạm nghĩa vụ trả xe (từ ngày 11/5/2023) cho bên nhận cầm cố, do đó việc Công ty Sawad khởi kiện yêu cầu ông Ngô T S phải trả số tiền còn nợ là có căn cứ nên được chấp nhận.

Như vậy, tổng số tiền tạm tính đến ngày 30/5/2025 mà ông S còn phải T toán cho Công ty Sawad là: 8.775.629 đồng, trong đó: tiền gốc là: 5.761.712 đồng, lãi trong hạn: 224.760 đồng, lãi quá hạn: 1.469.157 đồng; phí bảo dưỡng và hao mòn khi mượn xe chưa T toán cho đến ngày kết thúc Hợp đồng cầm cố: 1.320.000 đồng (4 tháng từ 11/12/2023 đến 11/4/2024).

Ông S tiếp tục chịu lãi suất phát sinh tính từ ngày 01/6/2025 cho đến khi tất toán khoản nợ theo lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng.

Ngay sau khi ông Ngô T S thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ, Công ty SAWAD có nghĩa vụ trả lại toàn bộ giấy tờ liên quan đến tài sản cầm cố gồm: Giấy chứng nhận đăng ký: (36)058134 do Phòng CSGT Công an tỉnh TH cấp ngày 28/10/2021 cho ông Ngô T S

[3] Về án phí: Ông S phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật.

Công ty SAWAD được trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 244, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 280, 309, 310, 311, 312, 313, 314, 316, 357, 468 Bộ luật dân sự 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

  1. Đình chỉ đối với yêu cầu về phí quản lý hồ sơ: 88.335 đồng, phí phạt vi phạm nghĩa vụ T toán: 460.937 đồng, chi phí tố tụng: 607.481 đồng, tổng là 1.156.753 đồng.

    Đình chỉ yêu cầu giải quyết về việc xử lý tài sản cầm cố đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter 135cc, màu đỏ, số khung RLCE1S9A0GY077442, số máy 1S9A077460, số giấy chứng nhận đăng ký: (36)058134 do Phòng CSGT Công an tỉnh TH cấp ngày 28/10/2021 cho ông Ngô T S.

  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần SAWAD Tiền Có Ngay.

    Buộc ông Ngô T S phải trả cho Công ty Cổ phần SAWAD Tiền Có Ngay tổng số tiền tạm tính đến ngày 30/5/2025 là: 8.775.629 đồng (tám triệu bảy trăm bảy mươi lăm nghìn sáu trăm hai mươi chín đồng), trong đó: tiền gốc là: 5.761.712 đồng, lãi trong hạn: 224.760 đồng, lãi quá hạn: 1.469.157 đồng; phí bảo dưỡng và hao mòn khi mượn xe chưa T toán cho đến ngày kết thúc Hợp đồng cầm cố: 1.320.000 đồng (4 tháng từ 11/12/2023 đến 11/4/2024).

    Ngay sau khi ông Ngô T S thực hiện xong nghĩa vụ trả toàn bộ số tiền nợ, Công ty SAWAD có nghĩa vụ trả lại toàn bộ giấy tờ liên quan đến tài sản cầm cố: Giấy chứng nhận đăng ký: (36)058134 do Phòng CSGT Công an tỉnh TH cấp ngày 28/10/2021 cho ông Ngô T S.

    Kể từ ngày 01/6/2025 cho đến khi thi hành án xong, ông Ngô T S còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định trong hợp đồng cầm cố số QXM230401004NA16X ngày 11/4/2023 mà ông S đã ký kết với Công ty Cổ phần SAWAD Tiền Có Ngay.

Về án phí: Ông Ngô T S phải chịu 438.700 đồng (bốn trăm ba mươi tám nghìn bảy trăm đồng – làm tròn) án phí dân sự sơ thẩm nộp Ngân sách nhà nước.

Trả lại Công ty Cổ phần SAWAD Tiền Có Ngay số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo phiếu thu số 0001919 ngày 18/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố TH

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận (hoặc ngày niêm yết) bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh TH;
  • - VKSND tỉnh TH;
  • - VKSND TP TH;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADS TP TH;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Ninh Thị Khánh Tân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2025/DS-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TH, TỈNH TH về tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản

  • Số bản án: 28/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TH, TỈNH TH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công ty SW khởi kiện đòi nợ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger