|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 28/2025/DS-PT
Ngày: 26/3/2025.
V/v "Tranh chấp về xác định đối tượng được nhận tiền bồi thường khi nhà nước thu hồi đất".
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đại Long.
Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Phương Thanh và ông Phạm Trường Du
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thanh Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 05/2025/TLPT-DS ngày 06 tháng 02 năm 2025 về “Tranh chấp về xác định đối tượng được nhận bồi thường khi nhà nước thu hồi đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 18/2024/ DS -ST ngày 11/12/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá bị kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐ-PT ngày 11 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Lê Thị H - Sinh năm 1961(có mặt)
- Địa chỉ: TDP Đ, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
- - Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L - Sinh năm 1968 (có mặt)
- Địa chỉ: TDP Đ, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
- - Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Đào Văn L1 - Sinh năm 1960 (vắng mặt)
- Địa chỉ: TDP Đ, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện theo ủy quyền của ông Đào Văn L1 là: Bà Lê Thị H, sinh năm 1961. Địa chỉ: TDP Đ, phường H, thị xã N, Thanh Hóa.
- Chị Lê Thị T - Sinh năm 1988 (vắng mặt)
- Địa chỉ: Số nhà I ấp Đ, xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.
- Anh Lê Bá T1 - Sinh năm 1991 (vắng mặt)
- Địa chỉ: TDP Đ, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
- Anh Lê Bá T2 - Sinh năm 1993 (vắng mặt)
- Địa chỉ: TDP Đ, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
- Anh Lê Bá B - Sinh năm 1996 (vắng mặt)
- Địa chỉ: TDP Đ, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện theo ủy quyền của chị Lê Thị T, Lê Bá T1, Lê Bá T2, Lê Bá B là: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1968, địa chỉ: TDP Đ, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
- UBND phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. (vắng mặt)
- Đại diện theo pháp luật: Ông Lê Bá H1 - Chủ tịch UBND phường H.
- UBND thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. (vắng mặt)
- Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thế A - Chủ tịch U.
- - Những người làm chứng:
- Ông Lê Ngọc V - Sinh năm: 1967 (vắng mặt)
- Địa chỉ: TDP Đ, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
- Bà Lê Thị H2 - Sinh năm 1958 (vắng mặt)
- Địa chỉ: TDP P, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
- Bà Lê Thị P - Sinh năm 1964 (vắng mặt)
- Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn bà Lê Thị H trình bày:
Ngày 22 tháng 5 năm 1995 gia đình bà Lê Thị H có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của gia đình ông Lê Bá Q và bà Nguyễn Thị L với diện tích nhận chuyển nhượng cụ thể: Về đất ở là diện tích 75m² trên đất còn có 01 ngôi nhà cấp 4, 03 gian; về đất sản xuất Nông nghiệp là toàn bộ đất sản xuất Nông nghiệp của gia đình ông Q bà L được nhà nước giao theo Nghị định 64, và 06 thước đất phần trăm của gia đình ông Q Bà L. Giá chuyển nhượng là 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng), việc mua bán giữa gia đình bà với gia đình ông Q bà L được xác lập bằng giấy viết tay và biên bản họp các thành viên trong gia đình với sự tham gia chứng kiến làm chứng của bố chồng bà là ông Lê Bá Q1 (đã chết) và các anh chị em ruột của bà gồm bà Lê Thị L2 (đã chết), bà Lê Thị H2 và bà Lê Thị P.
Sau khi nhận chuyển nhượng từ gia đình ông Q bà L thì gia đình bà đã trực tiếp sử dụng và thực hiện các nghĩa vụ tài chính cho nhà nước. Đối với phần diện tích đất ở thì vợ chồng bà đã làm các thủ tục và được nhà nước cấp giấy chứng nhận QSDĐ, còn đối với phần diện tích đất sản xuất Nông nghiệp thì gia đình bà chưa làm thủ tục đề nghị cấp giấy chứng nhận QSDĐ tuy nhiên phần diện tích đất chuyển nhượng này đã được đưa vào sổ mục kê của xã ghi tên gia đình bà là chủ sử dụng, kể từ khi nhận chuyển nhượng cho đến nay gia đình bà sử dụng ổn định và không có tranh chấp cũng như thực hiện việc đóng góp thuế cho nhà nước, sau khi chuyển nhượng được một thời gian thì gia đình bà đã giao lại một phần diện tích đất nông nghiệp cho anh trai cả của của bà H là Lê Minh H3 để lấy kinh phí lo việc thờ cúng, hương hỏa cho ông bà Tổ tiên còn vợ chồng bà H chỉ còn sử dụng 02 thửa gồm:
- + Thửa đất số 10 mảnh trích đo số 01/TĐĐC với diện tích là 263,9m2. Loại đất: LUK (đất trồng lúa).
- + Thửa đất số 27 mảnh trích đo số 01/TĐĐC với diện tích là 358,4m2. Loại đất: LUK (đất trồng lúa).
Ngày 22 tháng 7 Năm 2020 UBND thị xã N có thông báo thu hồi đất để thực hiện dự án Khu dân cư thôn Đ tại Phường H, thị xã N, trong đó có thu hồi 02 thửa đất trên. Thì lúc này bà L tranh chấp với gia đình bà và cho rằng phần diện tích đất sản xuất nông nghiệp gia đình bà L chưa chuyển nhượng cho gia đình bà mà là cho gia đình bà mượn để sử dụng. Việc tranh chấp giữa gia đình hai gia đình đã dược UBND phường H tổ chức hòa giải nhiều lần nhưng không thành.
Do đất đang có tranh chấp nên khi UBND thị xã N ra Quyết định thu hồi đất số 6870/QĐ-UBND ngày 09/7/2021 để thu hồi thửa đất số 10 và thửa đất số 27 với tổng diện tích thu hồi là 622,3m²; và tại Quyết định số 6862/QĐ-UBND ngày 09/7/2021 về việc phê duyệt kinh phí bồi thường theo đó tổng số tiền được bồi thường về đất, cây hoa màu, và chính sách hỗ trợ đối với việc thu hồi 02 thửa đất nêu trên là 88.571.300 đồng (tám mươi tám triệu năm trăm bảy mươi một nghìn ba trăm đồng) thì số tiền này đã được UBND thị xã N giao cho Hội đồng Bồi thường hỗ trợ và tái định cư gửi vào kho bạc nhà nước để chờ kết quả giải quyết tranh chấp xong mới thực hiện thủ tục chi trả.
Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho gia đình bà, đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn xem xét giải quyết cho bà vấn đề sau: Xác định bà là người có quyền sử dụng đất hợp pháp trước khi thu hồi đối với 02 thửa đất trên gia đình bà được liên hệ với Ủy ban nhân dân thị xã N để nhận số tiền 88.571.300đ (tám mươi tám triệu năm trăm bảy mươi một nghìn ba trăm đồng) hiện đang được UBND thị xã N gửi tại kho bạc nhà nước, gồm: Hỗ trợ về đất: 33.935.000đ; hoa màu 3.733.800₫ và hỗ trợ 50.902.500đ.
- Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Nguyễn Thị L trình bày như sau:
Bà là vợ của ông Lê Bá Q. Bà và ông Q xây dựng gia đình từ năm 1987, đến năm 1993 gia đình bà được nhà nước chia đất canh tác. Gia đình bà gồm 05 người: Ông Lê Bá Q (chồng), bà Nguyễn Thị L (vợ), chị Lê Thị T (con), anh Lê Bá T1 (con), Lê Bá T2 (con). Mỗi người được cấp một suất đất, riêng anh Lê Bá T2 được nửa suất. Ngoài ra, khi đó trong sổ nhà bà là bố chồng Lê Bá Q1 cũng được chia 1 suất đất ruộng nhưng đã giao cho anh trai cả là Lê Minh H3 để anh sau này có trách nhiệm thờ cúng. Vì vậy phần suất đất của ông Q1 không nằm trong vụ án này. Tổng diện tích đất ruộng nhà nước giao cho vợ chồng và các con bà là bao nhiêu bà cũng không nhớ vì lâu rồi. Sau khi gia đình bà được cấp đất ruộng thì gia đình bà không canh tác được vì bà mới sinh con nhỏ, mặt khác chồng bà (ông Q) thường xuyên say rượu, các con bà đều đang còn nhỏ, không ai hỗ trợ được. Sau đó chồng bà có nói với bà là cho bà H mượn đất để canh tác, vì bà H là chị gái của chồng bà nên bà đồng ý. Bà nghĩ khi nào con bà lớn lên sẽ đòi lại để làm. Quãng thời gian bà H canh tác thì bà H tự đóng thuế. Đến năm 2020, nhà nước thu hồi đất, chính quyền địa phương gọi bà lên làm thủ tục nhận tiền bồi thường thì bà H lại nói rằng ông Q bán đất cho bà H rồi, nên bà H phải được nhận tiền bồi thường. Bà L không đồng ý nên hai gia đình xảy ra mâu thuẫn tranh chấp. Bà H có đưa ra giấy tờ có nội dung ông Q bán đất cho bà H và đưa ra Biên bản họp các thành viên trong gia đình đề ngày 22/5/1995, nhưng theo bà L thì các giấy tờ này đều do bà H làm giả, chữ ký chữ viết trong giấy không phải của chồng bà là Lê Bá Q, chữ ký trong phần người nhận tiền trong Biên bản họp các thành viên trong gia đình cũng không phải chữ ký của bà L. Thực tế không có buổi họp gia đình nào cả. Bà L cho rằng vì tình cảm nên mới cho bà H mượn đất để canh tác, nay nhà nước thu hồi đất, bà H lại làm giả các giấy tờ để nhằm chiếm đoạt đất của gia đình bà là không chấp nhận được. Bà được biết tiền bồi thường gồm: Hỗ trợ về đất: 33.935.000đ; hoa màu 3.733.800đ và hỗ trợ 50.902.500đ. Bà yêu cầu Tòa án giải quyết giao số tiền bồi thường hỗ trợ về đất là 33.935.000đ cho gia đình bà. Còn tiền hoa màu và hỗ trợ chuyển đổi nghề thì bà đồng ý giao cho bà H.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Bá T2, anh Lê Bá B, anh Lê Bá T1, chị Lê Thị T trình bày:
Các anh chị là con đẻ của bà Nguyễn Thị L và ông Lê Bá Q. Anh, chị được biết năm 1993 gia đình mình được nhà nước giao đất lúa màu. Cụ thể diện tích bao nhiêu không rõ, chỉ biết đất được giao theo khẩu cho gia đình. Nay đất được nhà nước thu hồi và bồi thường tiền, bà H khởi kiện tranh chấp với gia đình anh chị thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Các anh chị bận công việc nên ủy quyền toàn bộ việc giải quyết tại tòa án cho mẹ là Nguyễn Thị L quyết định. Nếu trường hợp được tòa án phân chia tiền bồi thường thì anh chị thống nhất tặng cho mẹ là Nguyễn Thị L toàn bộ số tiền được nhận.
Quá trình giải quyết vụ án, bà Lê Thị H yêu cầu đưa người làm chứng là ông Lê Ngọc V, bà Lê Thị H2 và bà Lê Thị P.
- Người làm chứng là ông Lê Ngọc V trình bày:
Từ năm 1999 đến 2004 ông là trưởng thôn 9, xã H (nay là tổ dân phố Đ, phường H) và ông là bạn học cùng lớp và cùng khóa với ông Lê Bá Q. Vào khoảng năm 2000 đến năm 2002, ông có nhớ vào buổi chiều (không nhớ rõ ngày nào), ông Q có đến nhà ông chơi và có hỏi ông về thủ tục chuyển nhượng đất ngoài đồng (đất chia theo Nghị định 64) cho chị gái là bà Lê Thị H. Ông có hướng dẫn cho ông Q rằng: Ông phải viết giấy tờ mua bán chuyển nhượng rồi mang lên ủy ban nhân dân xã để chứng thực, ông có hướng dẫn rõ ràng là ông phải viết cụ thể: Họ tên, ngày, tháng, diện tích đất chuyển nhượng, vị trí nào, giá chuyển nhượng bao nhiêu. Khi đó ông Q có nhờ ông V viết hộ nhưng ông V nói rằng: Việc này là của cá nhân gia đình nên ông về bàn bạc với vợ con và tự viết giấy tờ. Sau đó ông Q về làm giấy tờ như thế nào thì ông cũng không rõ. Ông chỉ biết rằng từ khi làm trưởng thôn thì thấy bà H canh tác trên phần đất ruộng của nhà ông Q. Bà H thanh toán các khoản đóng góp cho địa phương hàng năm. Nay ông được Tòa án cho xem giấy có nội dung ông Q chuyển nhượng đất cho bà H thì ông thấy chữ viết và chữ ký trong giấy rất giống chữ viết chữ ký của ông Q. Tuy nhiên, ông không có văn bản nào có chữ ký chữ viết của ông Q để Tòa án so sánh. Khi ông Q còn sống chỉ làm ruộng, buôn bán ngoài chợ, ngoài biển nên thường xuyên không viết chữ. Kể từ khi nhà nước thu hồi, bồi thường tiền thì hai bên xảy ra tranh chấp, địa phương có hòa giải nhiều lần nhưng không được. Nay bà H khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định.
- Người làm chứng là bà Lê Thị Phúc trình B1:
Bà là em gái ruột của bà Lê Thị H và cũng là chị gái ruột của ông Lê Bá Q. Bà được biết năm 1995, vợ chồng ông Q bà L đã bán đất ở và đất ruộng cho bà H. Thực tế khi bán đất giao tiền thì bà không nhìn thấy, không chứng kiến. Nhưng từ năm 1995, bà H có nói cho bà biết là đã mua đất của cậu Q và giao tiền cho cậu mợ 6.000.000đ rồi. Bà H là người sử dụng đất của gia đình cậu Q. Từ khi bà H sử dụng đất để canh tác thì hai gia đình vẫn vui vẻ không xảy ra tranh chấp gì, mãi đến khi nhà nước thu hồi đất, bồi thường tiền thì mợ L mới đòi lại đất và đòi số tiền bồi thường. Bà P xác nhận năm 1995 bà P có ký vào biên bản họp các thành viên trong gia đình đề ngày 22/5/1995 mà bà H nộp cho Toà án là đúng. Giấy này là do bà H viết, bà P có ký vào phần các thành viên trong gia đình làm chứng về việc hai bên chuyển nhượng đất, nhận tiền. Mặc dù việc nhận tiền bà P không trực tiếp chứng kiến và khi bà P đến ký giấy thì mọi người đã ký trước rồi. Nhưng bà P khẳng định việc ông Q và bà L bán đất cho bà H là sự thật.
- Người làm chứng là bà Lê Thị H2 trình bày:
Bà H2 là chị gái ruột của bà Lê Thị H và ông Lê Bá Q. Bà được biết năm 1995 vợ chồng cậu Q và mợ L có bán đất và nhà ở cho dì H. Từ sau khi mua đất, dì H trực tiếp canh tác. Sau thời gian thì chị em vẫn vui vẻ bình thường. Khi dì H giao tiền cho ai bao nhiêu thì bà H2 không thấy, không chứng kiến. Năm 1995, dì H có nói với chị em trong gia đình là mua đất của cậu Q và mợ Lệ giá 6.000.000đ rồi. Bà có ký theo giấy tờ của dì H để dì H nộp cho Toà án. Không có họp gia đình. Nay dì H và mợ L tranh chấp số tiền đền bù thì đề nghị Toà án giải quyết theo pháp luật.
- Ý kiến của UBND phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa (tại công văn số 142/UBND-ĐC ngày 16/10/2024 gửi TAND thị xã Nghi Sơn):
Thửa đất số 10, mảnh trích đo đại chính số 01/TĐĐ diện tích 263,9m² loại đất LUK và thửa đất số 27 mảnh trích đo địa chính số 01/TĐĐC diện tích 258,4m² loại đất LUK có nguồn gốc là đất giao theo Nghị định 64-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ cho hộ gia đình ông Lê Bá Q (đã chết) và bà Nguyễn Thị L sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp.
Căn cứ giao đất: Căn cứ Điều 6, Nghị định 64-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ “Đối tượng giao đất nông nghiệp để sử dụng ổn định lâu dài là nhân khẩu nông nghiệp thường trú tại địa phương, kể cả những người đang làm nghĩa vụ quân sự”. Tại thời điểm giao đất hộ gia đình ông Lê Bá Q và bà Nguyễn Thị L là nhân khẩu nông nghiệp thường trú tại địa phương.
Sau khi giao đất theo quy định, gia đình ông Lê Bá Q, bà Nguyễn Thị L là người sử dụng đất để canh tác theo đúng mục đích sử dụng đất được giao; sau đó bà Lê Thị H là người sử dụng đất để canh tác.
Cho đến trước thời điểm thu hồi đất bà Lê Thị H là người sử dụng đất để sản xuất. Lý do: Sau khi giao đất theo Nghị định 64-CP năm 1993, năm 1999 xã H đã thực hiện chuyển đổi ruộng đất lần thứ 1, tại thời điểm chuyển đổi lần 1 bà Lê Thị H là người đang sản xuất trên thửa đất được giao cho ông Lê Bá Q trước đó. Năm 2016, UBND xã H thực hiện chuyển đổi ruộng đất từ ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn, tại thời điểm bốc thăm chuyển đổi do bà Nguyễn Thị L (là vợ ông Lê Bá Q) không có mặt tại địa phương và hai bên gia đình bà Lê Thị H và Nguyễn Thị L đang có tranh chấp nên tiểu ban chuyển đổi ruộng đất thôn I (nay là TDP Đ) đã không thực hiện việc cho gia đình bốc thăm nhận ruộng mà để lại khu đất theo diện tích đất đặc cách cho hộ dia đình gốc theo khẩu giao năm 1993 cho hộ ông Lê Bá Q. Sau khi bà Nguyễn Thị L về địa phương, tiểu ban chuyển đổi đã giao đất cho gia đình theo khẩu giao năm 1993, do hai bên gia đình đang có tranh chấp nên thửa đất không có người sản xuất, bà Lê Thị H đã có đơn đề nghị được tiếp tục canh tác để phát triển kinh tế gia đình, còn việc giải quyết tranh chấp sẽ tiếp tục thực hiện theo quy định của pháp luật, bà Nguyễn Thị L thống nhất nội dung như trên, nên trước thời điểm thu hồi đất, bà Lê Thị H đang là người sử dụng đất để canh tác.
Theo hồ sơ lưu trữ tại UBND xã qua các thời kỳ, trước thời điểm chuyển đổ ruộng đất năm 2016, không có hồ sơ lưu trữ về việc chuyển nhượng của hai bên gia đình có xác nhận của địa phương. Đến thời điểm chuyển đổi ruộng đất năm 2016 hai bên gia đình có tranh chấp nên đã được UBND xã H (nay là phường H) tổ chức hòa giải theo đúng trình tự pháp luật nhưng không thành.
- Ý kiến của UBND thị xã N, tỉnh Thanh Hóa (tại công văn số 2683/UBND-TD ngày 06/6/2024 gửi TAND thị xã Nghi Sơn):
Về hồ sơ địa chính, sổ mục kê, sổ giao đất và các tài liệu liên quan đến 02 thửa đất qua các thời kỳ thuộc trách nhiệm của UBND phường H. UBND phường H sẽ cung cấp cho Tòa án.
Đối với số tiền 88.571.300 đồng tại Quyết định số 6862/QĐ-UBND ngày 09/7/2021 của UBND thị xã N về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng (đợt 2) khi thực hiện dự án Khu dân cư Đ, phường H, thị xã N. Hiện chưa chi trả, do đang có tranh chấp, đang ở trong tài khoản số 3741.9096.9969.2026 của Kho bạc nhà nước thị xã N; chủ tài khoản là Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án Khu dân cư Đ, phường H, thị xã N.
Tại phiên tòa: Bà H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và kháng cáo một phần phần bản án đề nghị Tòa án xác định bà là người được hưởng toàn bộ số tiền 88.571.300 đồng tại Quyết định số 6862/QĐ-UBND ngày 09/7/2021 của UBND thị xã N. Bà L không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà H. Bà L đề nghị Tòa án giao cho bà được hưởng số tiền hỗ trợ về đất là 33.935.000đ, còn các tiền hoa màu và tiền hỗ trợ chuyển đổi nghề thì đồng ý giao cho bà H.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2024/ DS -ST ngày 11/12/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã áp dụng: Căn cứ Điều 75 Luật đất đai 1993; Điều 75, Điều 84 của Luật đất đai 2013; Điều 26, 35, 39, 147, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H.
- Bà Lê Thị H và ông Đào Văn L1 được hưởng số tiền 54.636.300đ bao gồm: Bồi thường cây hoa màu là 3.733.800đ và chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề là 50.902.500đ theo Quyết định số 6862/QĐ-UBND ngày 09/7/2021 về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng (đợt 2) thực hiện dự án Khu dân cư T, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
- Bà Nguyễn Thị Lệ H4 số tiền bồi thường về đất là 33.935.000đ theo Quyết định số 6862/QĐ-UBND ngày 09/7/2021 về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng (đợt 2) thực hiện dự án Khu dân cư T, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
Các đương sự có quyền liên hệ với UBND thị xã N để nhận số tiền bồi thường theo quy định của pháp luật. UBND thị xã N có nghĩa vụ thực hiện chi trả số tiền bồi thường cho các đương sự.
Ngoài ra Bản án còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa có ý kiến: Về kiểm sát tuân theo pháp luật tố tụng, từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), những người tham gia tố tụng trong vụ án đều tuân theo pháp luật tố tụng Dân sự.
Về nội dung đề nghị HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 308 BLTTDS quyết định theo hướng:
2. Chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị H về yêu cầu Tòa án cấp phúc chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện.
3.Về án phí phúc thẩm: Đề nghị HĐXX căn cứ NQ 326 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí lệ phí Tòa án để xem xét và quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa; xét kháng cáo của nguyên đơn và ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
[1]. Về tố tụng và quan hệ pháp luật: Bà Lê Thị H có đơn khởi kiện “Tranh chấp về xác định đối tượng được nhận tiền bồi thường khi nhà nước thu hồi đất”. Bà Nguyễn Thị L đang có nơi cư trú tại địa chỉ: TDP Đ, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện theo quy định tại khoản 2 Điều 26; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự.
- Người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt đã được triệu tập hợp lệ nên HĐXX vẫn tiến hành xét xử theo Điều 227 và Điều 229 BLTTDS.
[2] Về tố tụng: Xét tính hợp pháp của kháng cáo:
Ngày 11/12/2024, Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm vụ án. Ngày 11/12/2024 và ngày 24/12/2024 nguyên đơn bà Lê Thị H kháng cáo và kháng cáo bổ sung yêu cầu Tòa án phúc thẩm chấp nhận đơn khởi kiện của bà H. Người kháng cáo được miễn tiền tạm ứng án phí vì người cao tuổi theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án và quy định tại các Điều 273; Điều 275 và Điều 276 BLTTDS. Nên Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[3]. Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị H:
Theo đơn kháng cáo và kháng cáo bổ sung đề ngày 11/12/2024 và ngày 24/12/2024 nguyên đơn bà Lê Thị H yêu cầu cấp phúc thẩm chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện.
HĐXX xét thấy:
[3.1] Về nguồn gốc thửa đất tranh chấp:
Có cơ sở xác định thửa đất số 10, mảnh trích đo địa chính số 01/TĐĐ diện tích 263,9m² loại đất LUK và thửa đất số 27 mảnh trích đo địa chính số 01/TĐĐC diện tích 258,4m² loại đất LUK có nguồn gốc là đất giao theo Nghị định 64-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ cho hộ gia đình ông Lê Bá Q (đã chết) và bà Nguyễn Thị L sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp. Căn cứ giao đất: Căn cứ Điều 6, Nghị định 64-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ “Đối tượng giao đất nông nghiệp để sử dụng ổn định lâu dài là nhân khẩu nông nghiệp thường trú tại địa phương, kể cả những người đang làm nghĩa vụ quân sự”. Tại thời điểm giao đất hộ gia đình ông Lê Bá Q và bà Nguyễn Thị L là nhân khẩu nông nghiệp thường trú tại địa phương. Hộ gia đình ông Lê Bá Q thời điểm giao đất gồm: Ông Lê Bá Q, bà Nguyễn Thị L và các con của ông Q bà L là: chị Lê Thị T, anh Lê Bá T1, anh Lê Bá T2.
[3.2] Đánh giá giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lê Bá Q và bà Nguyễn Thị L cho bà Lê Thị H:
Bà Lê Thị H cho rằng ông Lê Bá Q và bà Nguyễn Thị L đã chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất trên cho bà với giá 6.000.000đ (sáu triệu đồng), thể hiện tại giấy viết tay do ông Lê Bá Q viết ngày 22/5/1995 và “Biên bản họp các thành viên trong gia đình” đề ngày 22/5/1995.
+ Giấy viết tay do ông Lê Bá Q viết đề ngày 22/5/1995 do bà H nộp cho Tòa án có nội dung như sau: “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Độc lập - Tự do - Hạnh phúc. Kính thưa: Bản H5 đất xứ Hải Lĩnh. Đồng kính: Ban nhà đất huyện T Tên tôi: Lê Bá Q và Nguyễn Thị Lệ . Tôi có chuyển nhượng cho bà Lê Thị H con số gồm có: 3 gian nhà cất đứng. Tổng diện tích là 75m² và còn 1 số vườn từ giếng nước ăn ra đường lên nhà ông K lên nhà ông T2 và 1 số đất canh tác số khẩu 5 khẩu 5 + 6T phần trăm. Người chứng thực. Xin cám ơn. Ngày 22/5/1995”, ký ghi rõ họ tên Lê Bá Q. Giấy viết tay nêu trên không có xác nhận của chính quyền địa phương. Bà Nguyễn Thị L cho rằng đây không phải chữ viết chữ ký của chồng bà là ông Lê Bá Q. Hiện nay ông Lê Bá Q đã chết, Tòa án đã yêu cầu các đương sự cung cấp mẫu chữ viết, chữ ký của ông Lê Bá Q để thực hiện trưng cầu giám định nhưng bà L không cung cấp được nên không đủ căn cứ để chứng minh giấy này không phải của ông Q viết ra như ý kiến của bà L.
+ “Biên bản họp các thành viên trong gia đình” đề ngày 22/5/1995 có nội dung: “Hôm nay ngày 22 tháng 5 năm 1995. Sau khi thống nhất của gia đình em Lê Bá Q (là chồng) và Nguyễn Thị L (là vợ) bán số tài sản và đất sản xuất nông nghiệp như sau: 3 gian nhà cất đứng, tổng diện tích là 75m². 6 thước phần trăm. Toàn bộ số đất sản xuất nông nghiệp, tính số khẩu là 5 khẩu 5, diện tích số sổ 31SNB114 (...) Sau khi họp các thành viên trong gia đình, đã được thống nhất với giá thỏa thuận là 6.000.000đ (sáu triệu đồng chẵn) Bán chuyển nhượng lâu dàu cho anh rể, chị gái (...) Đã giao đủ tiền cho ông Lê Bá Q và bà Nguyễn Thị L đã nhận đủ số tiền là 6.000.000đ (sáu triệu đồng chẵn) được sự nhất trí của các thành viên trong gia đình có mặt (...)” Tại phần người nhận tiền có chữ ký “Lệ”. Phần các thành viên trong gia đình làm chứng có chữ ký: Lê Bá Q1, Lê Thị Q2, Lê Thị L2, Lê Thị H2, Lê Thị P.
Bà Nguyễn Thị L cho rằng biên bản này là giả do bà Lê Thị H tự viết. Bà không hề nhận số tiền 6.000.000đ như trong biên bản. Chữ ký “Lệ” tại phần người nhận tiền cũng không phải chữ ký của bà và năm 1995 gia đình bà không có lần nào họp gia đình như biên bản này.
Tòa án đã trưng cầu giám định chữ ký của bà Nguyễn Thị L tại “Biên bản họp các thành viên trong gia đình”, tuy nhiên, phòng K1 công an tỉnh T từ chối giám định do không đủ năng lực thực hiện giám định. Các đương sự đều không yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định chữ ký của bà L tại cơ sở nào khác. Đề nghị Tòa án căn cứ các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ để giải quyết như vậy bà L không đủ căn cứ để chứng minh biên bản họp gia đình là giả và không có họp.
+ Mặt khác nội dung trong giấy chuyển nhượng của ông Q và biên bản họp gia đình có cả phần chuyển nhượng là nhà, đất ở và đất vườn “………3 gian nhà cất đứng. Tổng diện tích là 75m² và còn 1 số vườn từ giếng nước ăn ra đường lên nhà ông K lên nhà ông T2...” phần này bà L công nhận có chuyển nhượng cho bà H nhưng bà cho nói chưa lấy tiền mà bán chịu thực tế bà H đã xây dựng nhà kiên cố từ năm 1995 và bà H đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà L không có ý kiến gì và cũng không có căn cứ chứng minh là có đòi nợ tiền bán đất cho bà H. Còn phần trong giấy chuyển nhượng “………1 số đất canh tác số khẩu 5 khẩu 5 + 6T phần trăm...” và biên bản cuộc họp “...6 thước phần trăm. Toàn bộ số đất sản xuất nông nghiệp, tính số khẩu là 5 khẩu 5, diện tích số sổ 31SNB114”... phần này bà L không công nhận đã bán cho bà H mà chỉ nói là cho mượn nhưng bà L không đưa ra được tài liệu để chứng minh là cho bà H mượn mà phần này lại cùng nằm trong nội dung giấy chuyển nhượng cả nhà và đất ở nên việc bà L cho rằng là cho mượn là không có cơ sở chấp nhận.
+ Thực tế thì bà H đã sử dụng và canh tác 2 thửa đất số 10 mảnh trích đo số 01/TĐĐC với diện tích là 263,9m2. Loại đất: LUK (đất trồng lúa) và Thửa đất số 27 mảnh trích đo số 01/TĐĐC với diện tích là 358,4m2. Loại đất: LUK (đất trồng lúa) từ năm 1995 cho đến khi nhà nước thu hồi và đã được đưa vào sổ mục kê của xã ghi tên gia đình bà H là chủ sử dụng, bà H là người nộp thuế thực hiện các nghĩa vụ tài chính hàng năm theo quy định.
+ Người làm chứng là bà Lê Thị P xác định có họp gia đình và ký vào biên bản còn bà Lê Thị H2 có ký biên bản nhưng do bà H đưa chứ không họp gia đình. Bà H2 và bà P cũng khẳng định không chứng kiến việc hai bên thỏa thuận bán đất và giao tiền cho nhau, nhưng đều công nhận là từ năm 1995 có nghe nói vợ chồng anh Q và chị L có bán đất cho chị H. Còn ông Lê Bá Q1, bà Lê Thị Q2, bà Lê Thị L2 đều đã chết nên không có cơ sở xác định các chữ ký trong biên bản có phải của ông Q1, bà Q2, bà L2 hay không.
+ Trưởng thôn là ông Lê Ngọc V khai là khi ông Q còn sống, ông Q có đến hỏi ông về thủ tục chuyển nhượng đất cho bà H, ông có hướng dẫn cho ông Q, còn thực tế ông Lê Ngọc V cũng không chứng kiến việc hai gia đình chuyển nhượng đất hay giao tiền cho nhau nhưng ông khẳng định chữ ký trong giấy chuyển nhượng rất giống chữ ký của ông Q.
+ Theo hồ sơ lưu trữ tại UBND phường H qua các thời kỳ, trước thời điểm chuyển đổi ruộng đất năm 2016, không có hồ sơ lưu trữ về việc chuyển nhượng của hai bên gia đình có xác nhận của địa phương.
Từ những phân tích như trên HĐXX có cơ sở kết luận:
* Có việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đang tranh chấp giữa gia đình ông Lê Bá Q bà Nguyễn Thị L cho bà Lê Thị H.
* Chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị H theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện. Bà Lê Thị H và ông Đào Văn L1 được hưởng số tiền 88.571.300 đồng (tám mươi tám triệu năm trăm bảy mươi một nghìn ba trăm đồng).
* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa đề nghị HĐXX là có căn cứ pháp luật.
[4] Về án phí:
+ Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa.
Buộc bà Nguyễn Thị L phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
+ Án phí phúc thẩm dân sự: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa.
+ Kháng cáo của bà Lê Thị H được chấp nhận và là người cao tuổi nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 293, khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn sửa bản án dân sự sơ thẩm số 18/2024/DS-ST ngày 11/12/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Căn cứ: khoản 2 Điều 26; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 244, Điều 271, Điều 272; Điều 273, Điều 227, Điều 229, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 75 Luật đất đai 1993; Điều 75, Điều 84 của Luật đất đai 2013; điểm đ khoản 1 Điều 12 và điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa.
Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H.
- Bà Lê Thị H và ông Đào Văn L1 được hưởng số tiền 88.571.300 đồng (tám mươi tám triệu năm trăm bảy mươi một nghìn ba trăm đồng) bao gồm: Bồi thường cây hoa màu là 3.733.800đ; chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề là 50.902.500₫ và số tiền bồi thường về đất là 33.935.000đ theo Quyết định số 6862/QĐ-UBND ngày 09/7/2021 về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng (đợt 2) thực hiện dự án Khu dân cư T, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
- Bà Lê Thị H và ông Đào Văn L1 có quyền liên hệ với UBND thị xã N để nhận số tiền bồi thường theo quy định của pháp luật. UBND thị xã N có nghĩa vụ thực hiện chi trả số tiền bồi thường cho Bà Lê Thị H và ông Đào Văn L1.
Về Án phí phúc thẩm dân sự: Bà Lê Thị H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Nguyễn Thị L phải chịu 300.000₫ án phí dân sự sơ thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Vũ Đại Long |
Bản án số 28/2025/DS-PT ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về tranh chấp về xác định đối tượng được nhận tiền bồi thường khi nhà nước thu hồi đất
- Số bản án: 28/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về xác định đối tượng được nhận tiền bồi thường khi nhà nước thu hồi đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp tiền đất